Ảnh hưởng của biofloc lên tăng trưởng và hoạt động miễn dịch của tôm thẻ chân trắng ở giai đoạn postlarvae

Quay lại

Ảnh hưởng của biofloc lên tăng trưởng và hoạt động miễn dịch của tôm thẻ chân trắng ở giai đoạn postlarvae

: 3202

Nuôi tôm theo công nghệ biofloc đã từng được đề xuất như một mô hình nuôi bền vững có khả năng làm giảm tác động của môi trường và ngăn chặn tác nhân gây bệnh.

Các loài vi khuẩn có trong biofloc không chỉ có tác dụng giải độc mà còn cải thiện việc sử dụng thức ăn và còn kích thích tăng trưởng của sinh vật nuôi. Hệ thống biofloc có chứa một lượng lớn vi khuẩn trong đó thành tế bào bao gồm các thành phần khác nhau như lipopolysacharide của vi khuẩn, peptidoglycan và β-1,3-glucans, như được biết thì đó là chất kích thích hoạt động miễn dịch không đặc hiệu của tôm.

Biofloc được cho là có tác dụng tăng cường miễn dịch cho tôm bởi vì khi tôm ăn biofloc vào như một nguồn dinh dưỡng bổ sung. Mặc dù có nhiều lợi ích cho các loài vi khuẩn có trong hệ thống biofloc, nhưng để hiểu rõ hơn về các vi sinh vật đó, một phần của nghiên cứu tìm hiểu chi tiết về cấp độ phân tử là rất cần thiết.

Một thử nghiệm trong vòng 14 ngày đã được thực hiện với tôm thẻ chân trắng ở giai đoạn postlarvae (PL) trong điều kiện có bổ sung biofloc và không bổ sung biofloc. Để xác định mức độ biểu hiện mRNA của tôm, tác giả đã lựa chọn 6 gen (hoạt động của enzyme prophenoloxidase 1, prophenoloxidase 2, prophenoloxidase, serine proteenase 1, một loại giống như proteinase và một loại protein có liên quan đến nhân của protein) được tham gia vào các phản ứng khác nhau như các tầng prophenoloxidase, một trong những phản ứng miễn dịch chính của giáp xác.

Kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ sống, trọng lượng cuối của tôm ở nghiệm thức có bổ sung biofloc và không bổ sung biofloc. Mức độ biểu hiện của mRNA trong nghiệm thức bổ sung biofloc cao hơn đáng kể so với nghiệm thức không bổ sung biofloc.

Kết quả cho thấy rằng sự bổ sung biofloc trong nuôi tôm có ảnh hưởng tích cực lên tăng trưởng và sự biểu hiện của các gen có liên quan đến miễn dịch trên hậu ấu trùng tôm thẻ chân trắng.

Phó Văn Nghị, www.aquanetviet.com

Su-Kung K, Zhenguo P, Hyung-Chel S, Yeong-Rok C, Tzachi S. and In-kwon J, 2014. Effect of bioflocs on growth and immune activity of pacific white shrimp, Litopenaeus vannamei postlarvae. Aquaculture Research. Volume 45, Issue @, pp. 362-371.

 


 

Axit ribonucleic (RNA hay ARN) là một phân tử polymer cơ bản có nhiều vai trò sinh học trong mã hóa, dịch mã, điều hòa và biểu hiện của gene. RNA và DNA là các axit nucleic, cùng với lipid, protein và cacbohydrat, tạo thành bốn loại đại phân tử cơ sở cho mọi dạng sự sống trên Trái Đất. Giống như DNA, RNA tạo thành từ một chuỗi nucleotide, nhưng không giống DNA là thường tìm thấy nó ở dạng tự nhiên là một sợi đơn gập lại vào chính nó, hơn là sợi xoắn kép. Các sinh vật tế bào sử dụng RNA thông tin (mRNA) đề truyền đạt các thông tin di truyền (sử dụng các base nitric guanine, uracil, adenine và cytosine, ký hiệu tương ứng bằng các chữ cái G, U, A, và C) cho phép tổng hợp trực tiếp lên các protein chuyên biệt. Nhiều virus mã hóa thông tin di truyền của chúng trong bộ gene RNA.

Một số phân tử RNA đóng vai trò hoạt động bên trong tế bào như là những chất xúc tác cho các phản ứng sinh học, kiểm soát biểu hiện gene, hoặc những đáp ứng cảm nhận và liên lạc trong quá trình truyền tín hiệu tế bào. Một trong những quá trình hoạt động chính là sinh tổng hợp protein, một chức năng phổ biến mà các phân tử RNA trực tiếp tham gia tổng hợp protein trên phân tử ribosome. Quá trình này sử dụng các phân tử ARN vận chuyển (tRNA) mang các axit amin đến phức hệ ribosome, nơi các phân tử ARN ribosome (rRNA) thực hiện ghép nối các axit amin với nhau tạo thành chuỗi tiền protein.

ARN thông tin (mRNA) là RNA mang thông tin từ DNA đến ribosome, các vị trí dịch mã để sinh tổng hợp protein trong tế bào. Trình tự mã hóa của mRNA xác định lên trình tự axit amin trong protein được tổng hợp ra. Tuy nhiên, nhiều RNA không có vai trò mã hóa cho protein (khoảng 97% sản phẩm RNA từ quá trình phiên mã là những protein không mã hóa trong sinh vật nhân thực).

Nguồn: vi.wikipedia.org

 

 

Chia sẻ

Quay lại