Các giải pháp phòng bệnh do vi bào tử trùng EHP

Quay lại

Các giải pháp phòng bệnh do vi bào tử trùng EHP

: 664

Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II dựa trên nguồn mẫu thu từ tôm giống (ở các vùng khác nhau) và tôm thương phẩm nuôi ở ĐBSCL cho thấy mức độ nhiễm khác nhau của vi bào tử trùng EHP, Vibrio parahemolyticus gây bệnh gan tụy hoại tử cấp tính AHPND và bệnh đốm trắng WSSV trong các năm từ 2015 đến 2019.

Bệnh tôm chậm lớn do vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP)

EHP khác với loài vi bào tử trùng khác là tác nhân gây bệnh tôm bông. Vi bào tử trùng gây bệnh tôm bông cần phải có ký chủ trung gian là cá trước khi tấn công và gây bệnh trên tôm trong chu kỳ phát triển của nó. Loài ký sinh trùng này dễ dàng bị loại bỏ trong ao nuôi tôm bằng cách tiêu diệt các loài cá tạp trong ao trước khi thả tôm. Ở Thái Lan tôm bị nhiễm bào tử trùng xuất hiện đầu tiên năm 2009 trên tôm sú nuôi thương phẩm và tôm bố mẹ nhưng chưa được người nuôi chú ý đến.

EHP được xác định ký sinh trên gan tụy của tôm. Các giai đoạn từ hợp tử sinh bào tử vô tính đến bào tử trưởng thành đều ký sinh trong tế bào chất của tế bào gan tụy hình ống. Có rất nhiều nhân bào tử vô tính kết dính trực tiếp với tế bào chất và chứa rất nhiều hạt nhỏ trên bề mặt tế bào tôm. Vi bào tử nguyên phân xảy ra trong suốt giai đoạn đầu phát triển của ký sinh trùng và một số lượng lớn tiền nguyên bào tử (sporoblast) được hình thành. Bào tử có hình bầu dục, kích thước 0,7 x 1,1 μm và đơn nhân, phía trước cực nang có 5 – 6 vòng sợi tơ, có không bào phía sau, có đĩa bám gắn với sợi tơ ở đầu cực nang, vách tế bào đậm đặc mỏng. Vách tế bào cấu tạo gồm màng sinh chất, lớp nội bào sáng dầy khoảng 10 nm và lớp đậm đặc ở ngoại bào dầy khoảng 2 nm. Để phát hiện EHP bằng phương pháp PCR, đoạn mồi được thiết kế để khuếch đại đoạn DNA của bộ gene ký sinh trùng SSU rRNA có kích thước là 848 bp trên ngân hàng genbank (GenBank FJ496356). Trình tự đoạn khuếch đại cho thấy 84% tương đồng với trình tự nucleotide của Enterocytozoon bieneusi. Dựa trên những đặc tính của siêu cấu trúc cho thấy ký sinh trùng thuộc họ Enterocytozoonidae. Tế bào chất của plasmodia và trình tự SSU rRNA có sự khác biệt với E. bienseusi là 16%, vì vậy ký sinh trùng này được xem là một loài mới E. hepatopenaei thuộc giống Enterocytozoon (Tourtip và ctv, 2009).

EHP gây ảnh hưởng lên hệ thống gan tụy của tôm và có hình thái giống với loài vi bào tử trùng chưa được đặt tên microsporian trong nghiên cứu nhiễm trên tôm Penaeus japonicas ở Úc năm 2001. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho thấy, EHP không phải là tác nhân gây bệnh ngoại lai mà là mầm bệnh bản địa của Úc. Sau này, nghiên cứu của Tangprasittipap và ctv. (2013) đã chứng minh rằng, EHP cũng có thể được lây lan trực tiếp từ con này qua con khác trong quần đàn tôm. Đây là điểm khác biệt của EHP với các loài vi bào tử trùng khác như loài Agmasoma nhiễm trên tôm Penaeus monodonP. merguiensis cần có ký chủ trung gian là cá trong quá trình lan truyền. Theo Tourtip và ctv. (2009), bệnh do vi bào tử trùng ngày càng tăng cao ở các nước Đông Nam Á. Ngoài ra, hiện nay có 1 tác nhân ký sinh trùng đã được tìm thấy nhưng chưa định danh được đó là tác nhân gây các biểu hiện bong tróc các microvilli của các tế bào thành ống gan tụy của tôm (Thitamadee và ctv., 2016). Vi bào tử trùng hiện tại cũng được tìm thấy trên tôm nuôi ở Thái Lan (Rajendran và ctv., 2016; Kesavan và ctv., 2016).

Hội chứng phân trắng (White Feces Syndrome – WFS) được tìm thấy do nhiều tác nhân làm tôm chậm lớn, phân đàn, giảm ăn và có trường hợp chết rải rác liên tục. Những biểu hiện này thường được nhận thấy ở các bệnh khác liên quan đến tình trạng gan tụy tôm nuôi như bệnh do EHP, hoại tử gan tụy do Vibrio parahaemolyticus và bệnh nhiễm giống vi khuẩn Vibrio nói chung gây hoại tử gan tụy (Septic Hepatopancreatic Necrosis – SHPN). Vibrio gây SHPN có thể là tác nhân chính hoặc tác nhân cơ hội và thường hiện diện chủ yếu trong gan tụy tôm. Đặc biệt là khi gan tụy tôm bị yếu tố ban đầu làm tổn thương sẽ tạo điều kiện cho các Vibrio cơ hội gây bệnh và gây SHPN. Điều này cũng đã được chứng minh theo nhận định của Aranguren và ctv. (2017), EHP được xác định là yếu tố làm tăng sự mẫn cảm của tôm thẻ chân trắng đối với bệnh gan tụy cấp AHPND, SHPN và WFS. Do đó, việc kiểm soát và phòng tránh loài vi bào tử trùng này trong quá trình nuôi là rất quan trọng. Trước đây có thông tin cho rằng hội chứng phân trắng do nhiều tác nhân trong đó bao gồm Vibrio cholera, ký sinh trùng Gregarine, Bacilloplasma sp., Phascolarctobacterium sp., các loài tảo độc và không thấy liên quan đến EHP. Tuy nhiên theo nghiên cứu gần đây cho thấy mối liên hệ giữa WFS và các tác nhân khác trong đó có vai trò của EHP, SHPN kết hợp với môi trường bất lợi. Kết quả thu mẫu kiểm tra EHP bằng phương pháp PCR trên vùng có WFS và vùng không có WFS cho thấy mẫu thu ở vùng có WFS có số lượng virút EHP cao hơn vùng không có WFS. Điều này cho thấy tôm bệnh phân trắng có nhiều nguy cơ nhiễm EHP hơn.

Dấu hiệu chính của bệnh do EHP là chậm lớn, tôm phân đàn nhiều cỡ khác nhau, tiếp đến trường hợp nặng hơn có biểu hiện mềm vỏ, bơi lội chậm chạp, giảm bắt mồi và ruột rỗng không có thức ăn. Trên tiêu bản mô học tìm thấy các giai đoạn phát triển của bào tử.

Bệnh vi bào tử trùng là bệnh truyền nhiễm mang tính chất lây lan mạnh. Vì vậy một số biện pháp phòng bệnh tổng hợp cần phải được áp dụng như:

Con giống: Cần chọn lựa con giống tốt đã được xét nghiệm không mang các mầm bệnh thông thường trên tôm (WSSV, V. parahaemolyticus, EHP, Vibrio phát sáng, IMNV, TSV). Chọn tôm giống từ những công ty hoặc các trại sản xuất có uy tín và chất lượng tốt. Mật độ thả vừa phải: Đối với tôm sú 15 – 25 con/m2, đối với tôm thẻ chân trắng 60 – 70 con/m2.

Ao lắng: Trong nuôi thâm canh và bán thâm canh bắt buộc phải có ao lắng có diện tích bằng ít nhất 30% diện tích ao nuôi để có thể chủ động nguồn nước sạch cấp vào ao nuôi vào bất cứ lúc nào. Đối với ao lắng cũng cần được cải tạo và phải được diệt khuẩn nước kỹ trước khi cấp vào ao nuôi.

Cải tạo ao: Lưu ý đến việc cải tạo ao kỹ đúng quy cách sao cho có thể loại bỏ được mầm bệnh tồn tại từ vụ nuôi trước. Đối với ao lót bạt cần được chà sạch, phơi nắng, xử lý bằng vôi để loại vi bào tử trùng, rửa, xử lý bằng Chlorine ít nhất 30 ppm, diệt khuẩn nước kỹ trước khi gây màu. Đối với ao đất cần cày và phơi khô đáy ao ít nhất 2 – 3 tuần. Xử lý bằng vôi, sau đó rửa ao, xử lý bằng Chlorine ít nhất 30 ppm, diệt khuẩn kỹ trước khi cấp nước và gây màu. Đối với ao đất cần xử lý ao và kiểm tra mật độ Vibrio trong nước và trong đất kỹ trước khi gây màu.

An toàn sinh học: Tuân thủ tuyệt đối an toàn sinh học trong ao nuôi để tránh tình trạng lây lan mầm bệnh giữa các ao trong cùng trang trại. Đối với các vật dụng dùng cho chăm sóc hoặc kiểm tra tôm cần được bố trí riêng biệt để tránh lây giữa ao này và ao khác. Đối với trang trại có ao nhiễm EHP cần đặc biệt quan tâm đến lây lan qua nguồn nước hay do người chăm sóc.

Quản lý sức khỏe tôm: Thường xuyên kiểm tra sàng ăn để tránh trường hợp cho ăn dư làm ảnh hưởng đến chất lượng nước và tạo điều kiện cung cấp nguồn dinh dưỡng cho các nhóm tác nhân gây bệnh phát triển. Kiểm tra thường xuyên màu sắc gan tụy, biểu hiện bên ngoài (màu sắc, tình trạng cứng của vỏ tôm), phân đều về kích cỡ,…

Quản lý chất lượng nước: Thường xuyên theo dõi các yếu tố cơ bản trong ao nuôi như pH, nhiệt độ, độ kiềm, oxy hòa tan để kịp thời điều chỉnh tránh hiện tượng tôm bị sốc do môi trường sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh phát huy tác dụng và gây bùng phát dịch bệnh. Thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường như pH, kiềm, DO, NO2, NH3 để có biện pháp xử lý kịp thời.

Ngoài ra có các biện pháp liên quan đến vi bào tử trùng như sau:

– Trong các trại giống, vi bào tử trùng có thể bị giết chết bởi sự tiếp xúc 70% ethanol trong 30 phút, 1% formaldehyde hoặc 2% Lysol hoặc hấp ở 120°C trong 10 phút (Waller, 1979). Ngâm một trong 3 loại thuốc Albendazole, Mebendazole, Fenbendazole với nồng độ 2 mg/l nước trong 6h, khoảng cách 3 lần ngâm là khoảng 36h. Ngoài ra có thể sử dụng Toltrazuril (ở nồng độ 10 mg/l nước trong 5h) và Fumagillin (ở nồng độ 50 mg/kg trong 3 ngày) cũng đã được khuyến cáo để điều trị Microsporidia. Trên tôm sú nuôi sử dụng Toltrazuril (Baycox) với nồng độ 2 g/kg thức ăn để trị bệnh do Zoothamniasis cho hiệu quả cao (Thamthiwat và ctv., 1991).

– Điều trị bệnh do nhiễm Microsporidia nói chung thường sử dụng các loại thuốc đặc trị tiêu diệt mầm bệnh, tuy nhiên đối với EHP thì việc điều trị thuốc không hiệu quả vì chúng hiện diện ở các mô đặc biệt. Để phòng trị một cách hiệu quả đòi hỏi phải thực hiện chiến lược theo 3 hướng kết hợp an toàn sinh học trong sản xuất giống, chuẩn bị ao nuôi thích hợp và quản lý ao nuôi thích hợp trong chu kỳ tăng trưởng. Tốt nhất nên cải tạo và xử lý nền đáy ao để loại bỏ bào tử trùng giữa các chu kỳ nuôi. Sử dụng Calcium hypochlorite ở nồng độ ít nhất 30 ppm để diệt vật mang mầm bệnh trong ao và xử lý nước trước khi thả tôm.

– EHP và V. parahaemolyticus gây AHPND đều được tìm thấy trên tôm bố mẹ ở Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam. Cả hai loại mầm bệnh này đều được tìm thấy trên giun nhiều tơ sống thường được sử dụng để làm thức ăn cho tôm bố mẹ. Do đó, phân tôm bố mẹ cần được kiểm tra bằng phương pháp PCR trước khi đưa vào trại sản xuất giống để cho sinh sản. Ngoài ra, khi tôm bố mẹ đã sinh sản nhiều lần (giảm năng suất, không sử dụng nữa) cần được tiến hành kiểm tra xác nhận sự hiện diện của EHP bằng phương pháp mô bệnh học trên mô gan tụy. Tôm bố mẹ sinh sản nhiều lần nên loại bỏ, vệ sinh trang trại giống (bao gồm tất cả các thiết bị, các bộ lọc nước, bể chứa nước, ống nước, dây sục khí,…) bằng dung dịch sút 2,5% (NaOH 25 g/L nước ngọt). Tất cả các thiết bị, vật dụng trong trại phải được tiệt trùng bằng dung dịch sút 2,5% trong 3 giờ, sau đó rửa sạch lại. Sau khi tiệt trùng bằng dung dịch toàn bộ dụng cụ phải được phơi nắng hoặc làm khô trong 7 ngày. Sau đó, toàn bộ nền (sàn) trang trại được rửa lại bằng dung dịch Chlorine 200 ppm.

– Đối với nuôi thương phẩm trong khâu thả giống, con giống cần phải kiểm tra các mầm bệnh nguy hiểm như WSSV, V. parahaemolyticus, TSV, IMNV, EHP bằng phương pháp PCR để loại bỏ con giống bị nhiễm bệnh ngay từ đầu. Việc chuẩn bị ao nuôi thích hợp sau các vụ nuôi, đặc biệt là khi một ao nuôi trước đây đã bị nhiễm EHP cần được cải tạo kỹ và mất nhiều thời gian hơn. Các bào tử của EHP có vỏ dày, không dễ dàng bị làm bất hoạt. Kể cả Chlorine với hàm lượng cao cũng không có hiệu quả trong việc tiêu diệt bào tử EHP. Ngoài ra, các vật chủ có khả năng mang mầm bệnh EHP trong môi trường hiện vẫn chưa được xác định rõ. Cả hai có thể vẫn còn tồn tại trong ao sau khi thu hoạch và điều quan trọng là chúng phải được tiêu diệt trước khi tiến hành vụ nuôi tiếp. Để tiêu diệt bào tử EHP, có thể sử dụng vôi nóng CaO với liều lượng 6 tấn/ha. Đáy ao nuôi cần được cày xới khoảng 10 – 12 cm, sau đó bón vôi CaO khắp đáy ao. Sau đó, ao nuôi cần được phơi khô khoảng 1 tuần trước khi lấy nước vào ao nuôi. Sau khi dùng vôi CaO, độ pH của đất sẽ tăng lên rất cao, có khi 12, sau một vài ngày pH sẽ trở lại bình thường.

(Theo tài liệu Hội thảo về giải pháp phát triển nuôi tôm nước lợ hiệu quả, bền vững tại Sóc Trăng ngày 17/9/2019)

TS. Lê Hồng Phước – VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN II

Nguồn: tongcucthuysan.gov.vn

Nguồn hình ảnh: aquaculturealliance

 

Chia sẻ

Quay lại