Chuẩn bị ao nuôi rất quan trọng trong nuôi và phòng ngừa bệnh tôm

Quay lại

Chuẩn bị ao nuôi rất quan trọng trong nuôi và phòng ngừa bệnh tôm

: 174

Hình ảnh ao nuôi tôm vừa được thu hoạch còn đầy chất hữu cơ ở đáy đòi hỏi sự chuẩn bị đúng cách trước khi thả nuôi vụ tiếp theo. Ảnh của Darryl Jory.

Sau khi tháo nước để thu hoạch tôm, các ao nuôi thường phải trải qua nhiều cách kết hợp xử lý khác nhau để chuẩn bị cho vụ nuôi tiếp theo. Ngăn ngừa bệnh là mối quan tâm chính trong nuôi tôm, vì vậy việc chuẩn bị ao sẽ tập trung để phòng tránh sự xâm nhập của các sinh vật gây bệnh từ vụ này sang vụ khác và ngăn ngừa bệnh vào lại trong nước được cấp vào ao. Chất lượng đất và nước suy giảm gây căng thẳng cho tôm sẽ dẫn đến bệnh và cần có các phương pháp xử lý để cải thiện chất lượng đất trong công đoạn chuẩn bị ao.

Ao sẽ tích tụ các hạt đất bị xói mòn do đào đất và chất hữu cơ có nguồn gốc từ sinh vật phù du chết, thức ăn thừa và phân. Phổ biến trong nuôi tôm thâm canh là làm sạch đáy ao sau mỗi vụ, có thể áp dụng phương pháp thủy lực bằng cách sử dụng vòi áp lực cao trong khi đáy ao còn ướt hoặc bằng cách sử dụng máy đào sau khi đáy đã khô.

Không rõ có cần thiết loại bỏ trầm tích sau mỗi vụ nuôi. Có những ao đã nuôi thành công trong 10 – 15 năm mà không cần loại bỏ trầm tích, nhưng nếu trầm tích dày hơn 5 – 10 cm thì không khô hoàn toàn.

Phơi, xới đất, bón vôi đáy ao

Đáy của các ao trống thường được phơi khô dưới ánh nắng mặt trời khoảng 2 tuần trở lên. Theo lý tưởng cách làm này sẽ giảm độ ẩm của đất đủ để tiêu diệt hầu hết các sinh vật (bao gồm cả các sinh vật gây bệnh) còn lại trong ao sau khi tháo cạn nước.

Đôi khi dùng bừa đĩa để làm vỡ khối đất, tăng khả năng tiếp xúc của đất với không khí và làm đất mau khô. Máy cày xới đất cũng có thể được sử dụng cho mục đích này, nhưng máy cày khuôn làm đảo đất không có hiệu quả.

Một số ao có chỗ trũng lõm giữ nước trong khi phần còn lại của đáy đã khô. Một số ao cũng có thể không khô hết do ngấm nước ngầm từ các ao hoặc các kênh lân cận. Đáy ao có thể là không khô được hoàn toàn, đặc biệt là trong mùa mưa.

Một số nông dân sử dụng vôi sống hoặc vôi tôi rải trên đáy ao. Cách xử lý này có thể làm tăng độ pH của đất đủ cao để tiêu diệt các sinh vật không mong muốn bao gồm cả các sinh vật gây bệnh. Tuy nhiên, tỷ lệ xử lý hiệu quả cao thì tối thiểu là 3.000 kg/ha (300 gram/m2) vôi sống hoặc 4.000 kg/ha (400 gram/m2) vôi tôi.

Quy trình tốt nhất có thể là làm khô đáy ao và xử lý vôi ở các chỗ đáy không khô. Tuy nhiên, một số người nuôi rải vôi toàn bộ đáy ao sau mỗi vụ. Chất vôi sẽ không hòa tan trong đất khô để tăng độ pH và nên bón vôi trong khi đáy ao vẫn còn ẩm.

Canxi hypochlorite cũng có thể được sử dụng để khử trùng ở các chỗ ẩm ướt.Liều lượng sử dụng chất khử trùng này là 100 – 200 gram/m2. Đồng sulfat, formalin và kali permanganat cũng đã được sử dụng để khử trùng đất, nhưng không hiệu quả như vôi hoặc canxi hypochlorite.

Chuẩn bị ao đúng cách đòi hỏi phải làm khô đáy ao và sử dụng các sản phẩm vôi như hình ao tôm ở Châu Phi.

Đáy ao có độ pH đất dưới 7 nên được bón vôi để tăng độ pH. Nếu sử dụng vôi sống hoặc vôi tôi để khử trùng thì vôi sẽ trung hòa độ chua của đất. Nếu ao khô hoàn toàn và không sử dụng vôi để khử trùng thì sử dụng vôi nông nghiệp ít tốn kém hơn dùng để trung hòa độ chua của đất. Tỷ lệ sử dụng vôi nông nghiệp điển hình được cung cấp trong Bảng 1. Vôi nông nghiệp nên được rải đều trên đáy ao trong khi đất vẫn còn ẩm.

Bảng 1. Ước tính lượng vôi dùng cho đất đáy ao nuôi tôm dựa trên độ pH của đất.

Lấy nước vào ao, khử trùng

Nước để lấy vào ao thường được đưa qua màng lưới mịn hoặc bộ lọc để loại bỏ các sinh vật không mong muốn. Mặc dù quá trình lọc sẽ làm giảm khả năng cá và các sinh vật tương đối lớn khác xâm nhập vào ao, nhưng sẽ không ngăn được sự xâm nhập của nhiều sinh vật gây bệnh và các vectơ (vật trung gian truyền bệnh) nhỏ hơn của các sinh vật gây bệnh.

Cách hiệu quả nhất để ngăn chặn sự xâm nhập của các sinh vật gây bệnh thông qua việc cấp nước là khử trùng. Chất khử trùng có thể được sử dụng cho nước trong ao lắng hoặc sử dụng trực tiếp trong các ao mới lấy nước. Có thể sử dụng các chất khử trùng như canxi hypochlorite, chloramine T, kali permanganat, đồng sulfat, hydro peroxide, hợp chất iodine, benzalkonium chloride và glutaraldehyde. Hiệu quả nhất có thể là canxi hydochlorite ở nồng độ 20 – 30 mg/L.

Thả giống và bón phân gây màu

Thường chỉ mất 3 – 5 ngày để cho tác dụng độc hại của chất khử trùng tan hết rồi mới thả giống. Tuy nhiên, đáy ao thường được phơi khô, rải vôi lên đáy để tăng độ pH và tiêu diệt các sinh vật không mong muốn, nước cấp vào ao đã được khử trùng. Ao thường có nước trong và một số sinh vật đáy trong đất đáy sau khi khử trùng.

Tôm giống postlarvae có thể sử dụng thức ăn công nghiệp, ngoài ra có thêm thức ăn tự nhiên là các sinh vật trong một vài tuần sau khi thả vào ao. Ao nên được bón phân để thúc đẩy sự phát triển của thực vật phù du, động vật phù du và sinh vật đáy trước khi thả giống. Có thể bón phân urê và triple superphosphate hoặc các loại phân bón thương phẩm khác để kích khởi thực vật phù du phát triển.

Tuy nhiên, việc dùng một loại phân hữu cơ kết hợp với phân bón thương phẩm sẽ làm động vật phù du và các sinh vật đáy phát triển nhanh chóng hơn là chỉ dùng phân bón thương phẩm. Phân chuồng có thể được sử dụng làm phân bón hữu cơ, nhưng tốt hơn và vệ sinh hơn nên là sử dụng bột đậu nành, thức ăn tôm cũ, cám gạo hoặc một số chất hữu cơ chất lượng cao khác.

Không có tỷ lệ bón phân được chấp nhận chung cho các ao. Tỷ lệ điển hình là 6 – 8 kg nitơ (12 – 18 kg/ha urê), 1 – 2 kg phốtpho (5 – 10 kg/ha triple superphosphate) và khoảng 100 – 200 kg/ha phân hữu cơ chất lượng cao. Việc sử dụng phân bón nên được lặp đi lặp lại nếu thực vật phù du không phát triển trong vòng 4 – 5 ngày. Đôi khi có thể mất đến 2 tuần để có được thực vật phù du phát triển tốt.

Việc bón phân có thể phải được tiếp tục định kỳ 2 – 3 tuần để duy trì thực vật phù du nở hoa, nhưng một khi tần suất cho ăn đạt 20 – 30 kg/ha/ngày thì thường sẽ có đủ chất dinh dưỡng vào trong nước do thức ăn thừa, phân và các chất bài tiết của tôm để duy trì sự nở hoa.

Những cân nhắc khác

Một số nông dân thích bón vôi vào nước ao với số lượng nhỏ theo định kỳ trong nuôi tăng trưởng. Chất vôi không hòa tan trừ khi độ kiềm của nước giảm xuống dưới 60 – 70 mg/L. Bón vôi thường không có lợi trong giai đoạn nuôi.

Các sản phẩm vi sinh, thường được gọi là chế phẩm sinh học thường được sử dụng cho ao. Trong khi các sản phẩm này có thể có lợi ngay sau khử trùng ao khi mức độ phong phú của vi khuẩn giảm thì cũng không có lý do để nghi ngờ lợi ích của chúng sau đó.

BioAqua.vn

Nguồn: Claude E. Boyd, Ph.D., School of Fisheries, Aquaculture and Aquatic Sciences, Auburn University, Auburn, Alabama 36849 USA – Global Aquaculture Alliance

 

Chia sẻ

Quay lại