Đánh giá sản lượng tôm toàn cầu – Ngành nuôi tôm dự kiến phục hồi ổn định sau tác động của dịch bệnh

Quay lại

Đánh giá sản lượng tôm toàn cầu – Ngành nuôi tôm dự kiến phục hồi ổn định sau tác động của dịch bệnh

: 5425

Liên minh Nuôi trồng Thủy sản Toàn cầu khảo sát về xu hướng sản lượng nuôi tôm năm 2014 đã thăm dò ý kiến 33 người được khảo sát đến từ châu Á/châu Đại Dương, 22 người từ Mỹ Latin và 2 người từ châu Phi. Hình 1 tóm tắt dự đoán sản lượng toàn cầu. Số liệu cho tới năm 2012 từ nguồn Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), trong khi đó số liệu của năm 2013-2016 là con số trung bình ước đoán được đưa ra bởi những người tham gia khảo sát.

Sản lượng tôm dự kiến sẽ tăng trung bình 8% hàng năm cho tới 2016.

Hình 1. Sản lượng tôm theo khu vực. Vùng màu xanh dương là sự khác biệt giữa mức tăng trưởng 4% và dự đoán của GOAL. Nguồn: FAO (2009-2012) và khảo sát GOAL (2013-2016).

Theo số liệu của FAO, sản lượng tôm nuôi toàn cầu đạt 4,0 triệu tấn trong năm 2012, giảm 4% so với 2011.

Cuộc khảo sát GOAL ước tính sản lượng thế giới đã giảm 19,3% trong năm 2013 còn 3,3 triệu tấn, nhưng bắt đầu tăng trở lại trong năm 2014. Nếu sản lượng đã từng tăng với tốc độ hàng năm vừa phải là 4,0% sau năm 2012, có thể suy ra sản lượng năm 2013 vào khoảng 22,0% dưới mức có thể được mong đợi nếu cuộc khủng hoảng bệnh gần đây nhất liên quan đến hội chứng tôm chết sớm đã được đẩy lui.

Sản lượng tôm toàn cầu tuy nhiên được kỳ vọng sẽ hồi phục và tăng trưởng với tốc độ trung bình khoảng 8% trong năm 2014, 2015 và 2016. Khối lượng phải phục hồi gần với mức 2011 vào năm 2016.

Sản lượng của châu Á

Sản lượng tôm tăng trưởng đều đặn ở châu Á cho đến năm 2011, trung bình ở tốc độ tăng trưởng hàng năm là 7% từ 2006 đến 2011 (Hình 2).

 

Hình 2. Sản lượng tôm nuôi ở các quốc gia nuôi chính ở châu Á. Nguồn: FAO (2009-2012) và khảo sát GOAL (2013-2016).

Sản lượng trong năm 2012 giảm xuống còn 3,4 triệu tấn (giảm 5% so với năm 2011) do tác động của hội chứng tôm chết sớm (EMS) hay là hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính ở Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam và Malaysia. Theo những người được khảo sát, sản lượng ở châu Á giảm 21% trong năm 2013 xuống còn khoảng 2,7 triệu tấn với sự sụt giảm đáng kể nhất xảy ra ở Trung Quốc và Thái Lan.

Mặc dù sản lượng ở Trung Quốc dự kiến sẽ phục hồi trong năm 2014 từ 1,1 lên 1,2 triệu tấn, sản lượng ở Thái Lan dự kiến sẽ giảm hơn nữa còn 200.000 tấn, với sự phục hồi một phần có thể xảy ra trong năm 2015. Sản lượng ở Việt Nam, Indonesia và Ấn Độ dự kiến sẽ tăng đều đặn trong các năm từ 2013 đến 2016, Việt Nam và Ấn Độ đạt mức tăng trưởng hai con số.

Đến năm 2016, Việt Nam, Indonesia, Ấn Độ và Bangladesh dự kiến đạt sản lượng tương ứng là 590.000; 450.000; 395.000 và 107.000 tấn. Thái Lan có thể rơi từ vị trí thứ hai xuống thứ năm trong khu vực, sản xuất 328.000 tấn trong năm 2016. Sản lượng tại Trung Quốc dự kiến sẽ đạt 1,3 triệu tấn trong năm 2016, 16% thấp hơn sản lượng kỷ lục đạt được trong năm 2011. Những dự báo này cho rằng tác động của bệnh đã giảm xuống mức có thể kiểm soát được.

Châu Mỹ Latin

Hình 3 thể hiện sản lượng ước tính của các quốc gia nuôi tôm chính ở Mỹ Latin. Mexico cũng đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi EMS năm 2013, những người được khảo sát đã ghi nhận sự suy giảm 48% về sản lượng từ 100.000 tấn năm 2012 xuống 52.000 tấn. Sự phục hồi một phần dự kiến sẽ bắt đầu vào năm 2014. Tuy nhiên, sản lượng năm 2016 dự kiến chỉ đạt 86.000 tấn – 34% thấp hơn sản lượng kỷ lục đạt được trong năm 2008.

 

Hình 3. Sản lượng tôm nuôi ở các nước quốc gia sản xuất chính ở Mỹ Latin. Nguồn: FAO (2009-2012) và khảo sát GOAL (2013-2016).

Triển vọng đối với hầu hết các quốc gia Châu Mỹ Latinh khác khả quan hơn, với Ecuador và Brazil đạt tương ứng 356.000 và 106.000 tấn vào năm 2016. Sự tăng trưởng mạnh được dự đoán cho Ecuador nói riêng, là nơi có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trong các năm từ 2013 đến 2016 dự kiến sẽ được khoảng 8,5%. Sự tăng trưởng này cho thấy rằng tôm Ecuador tăng cường xuất hiện tại các thị trường châu Âu và châu Á ngoài thị trường truyền thống Mỹ.

Giả sử không có tác động lớn từ EMS, mức tăng ổn định về sản lượng cho đến năm 2016 được dự báo đối với hầu hết các nước ở châu Mỹ Latin, ngoại trừ ngành nuôi tôm ở Colombia được dự báo sẽ thu hẹp gần 60% trong các năm từ 2012 đến 2016.

Các xu hướng đa dạng chủng loại sản phẩm

Cuộc khảo sát GOAL cũng thu thập thông tin về xu hướng các chủng loại cỡ và dạng sản phẩm. Một xu hướng đáng chú ý ở châu Á trong những năm gần đây là sự gia tăng tôm he tương ứng như các dạng sản phẩm khác, chẳng hạn như nấu chín và tẩm bột. Dù tôm he còn đầu và bỏ đầu chỉ chiếm khoảng 30% sản lượng trong cuộc khảo sát năm 2007, thì theo cuộc khảo sát gần đây nhất chiếm tới 48%. Những thay đổi này dường như phản ánh tầm quan trọng ngày càng tăng của thị trường nội địa Trung Quốc vốn có thể ưa thích tôm he hơn các dạng chế biến khác.

Sản lượng tại Mỹ Latin tiếp tục định hướng vào tôm he. Tôm bỏ đầu dường như đang mất đi thị phần so với tôm còn đầu và tôm bóc vỏ. Tôm he bỏ đầu chiếm 41% sản lượng năm 2006, tuy nhiên chỉ được 24% vào năm 2013.

Các chuyến hàng tôm của Ecuador cho thị trường châu Âu và châu Á tăng lên là một yếu tố quan trọng thúc đẩy xu hướng này.

Người được khảo sát ở châu Á đã cho biết một sự chuyển đổi sang sản xuất tôm cỡ nhỏ hơn kể từ năm 2010. Thị phần của tôm nhỏ tăng từ 27% lên 42% trong các năm từ 2010 đến 2013. Việc chuyển sang tôm nhỏ hơn dường như đã được thúc đẩy bởi việc thu hẹp biên giá giữa các cỡ nhỏ và số lượng nhiều hơn. Thu hoạch sớm do EMS cũng giúp giải thích xu hướng này.

Tác động của bệnh

“Bệnh” một lần nữa được những người trả lời khảo sát nhận định là thách thức quan trọng nhất phải đối mặt của ngành công nghiệp nuôi tôm. Các vấn đề liên quan đến bệnh khác, chẳng hạn như chất lượng và sự sẵn có con giống, tiếp cận được tôm bố mẹ sạch bệnh cũng được xếp ở vị trí cao tương ứng với vị trí thứ hai và thứ tư. Giá cả thị trường quốc tế và chi phí thức ăn đã được xếp vào các vấn đề quan trọng thứ ba và thứ năm.

Những nhận thức này đã thay đổi đáng kể trong 7 năm qua. Trong cuộc khảo sát năm 2007, bệnh đã không được đề cập đến trong 3 thách thức hàng đầu đối với các nhà sản xuất châu Á là những người thường quan tâm nhiều hơn đến chi phí thức ăn, giá cả thị trường quốc tế và các rào cản thương mại. Các vấn đề về bệnh đã tiến lên vị trí hàng đầu trong những năm gần đây. Ở Mỹ Latin, tiếp cận tín dụng gần đây đã nổi lên như là một thách thức quan trọng đối với ngành công nghiệp này.

Hầu hết người tham gia khảo sát ở châu Á và Mỹ Latinh đều dự đoán tình hình kinh tế toàn cầu sẽ cải thiện và thị trường tôm toàn cầu sẽ mạnh lên trong năm 2015 so với năm 2014. Các áp lực tăng lên đến giá thức ăn tuy thế vẫn sẽ tiếp tục trong năm 2015.

 

Tôm he đã trở thành dạng sản phẩm ngày càng quan trọng trên toàn cầu.

BioAqua.vn

Nguồn: Tiến sĩ James L. Anderson, Ngân hàng Thế giới, Đại học Florida – Tiến sĩ Diego Valderrama, Đại học Florida – Tiến sĩ Darryl Jory, Liên minh Nuôi trồng Thủy sản Toàn cầu – Theo Advocate Global Aquaculture – Tháng 11-12/2014.

Chia sẻ

Quay lại