Độc tố nấm mốc: Kẻ giết tôm thầm lặng – Kiểm soát độc tố trong thức ăn thủy sản

Quay lại

Độc tố nấm mốc: Kẻ giết tôm thầm lặng – Kiểm soát độc tố trong thức ăn thủy sản

: 618

Độc tố nấm mốc: Kẻ giết tôm thầm lặng

Chất lượng thức ăn cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công trong nuôi tôm. Thức ăn bảo quản không đúng cách, dễ mốc, làm phát sinh nhiều độc tố nấm mốc (mycotoxin). Tôm ăn những loại thức ăn này gây tổn thương gan, kết hợp với tác nhân kích thích từ môi trường bên ngoài có thể dẫn đến một số lượng lớn tôm chết.

Tuy nhiên, những yếu tố này đã bị ngành nuôi tôm coi thường. Sự coi thường hậu quả của việc nhiễm độc tố nấm mốc trong thức ăn của tôm có liên quan trực tiếp đến việc thiếu thông tin về tác động của các loại độc tố nấm mốc khác nhau trong nuôi cấy giáp xác.

Hầu hết các vấn đề mà ngành nuôi tôm hiện đang đối mặt có liên quan đến sự xuất hiện rộng rãi của bệnh, ví dụ: nhiễm vi khuẩn, virus hay bệnh do ký sinh trùng. Những vấn đề bệnh tật này có thể dẫn đến tổn thất nặng nề cho ngành công nghiệp nuôi tôm, do đó, ngành tôm đã tập trung phần lớn sự chú ý để đối phó với các mối đe dọa như vậy. Tuy nhiên, có những mối đe dọa tiềm tàng khác như các bệnh do môi trường nuôi và thức ăn cũng có thể ảnh hưởng lớn đến sự thành công trong nuôi tôm. Trong đó là sự hiện diện của mycotoxin – độc tố nấm mốc trong thức ăn của tôm.

Tác hại của độc tố nấm mốc trên tôm nuôi

Ô nhiễm thức ăn dùng cho các loài thủy sản khá phổ biến ở các vùng nhiệt đới nóng ẩm, như các nước Đông Nam Á. Vấn đề có thể được gây ra bởi nhiều yếu tố, chẳng hạn như chất lượng kém của thành phần thức ăn và phương pháp bảo quản thức ăn không phù hợp.

Mycotoxin là sản phẩm của sự chuyển hóa thứ cấp trong quá trình phát triển của mỗi loài hoặc mỗi chủng nấm mốc nhất định, thường được gọi là độc tố nấm mốc. Các độc tố nấm mốc này phát triển trên các sản phẩm nông nghiệp cả trước, sau khi thu hoạch và cả trong quá trình vận chuyển hay bảo quản sản phẩm.

Theo xu hướng và nhu cầu kinh tế, protein thực vật được sử dụng để thay thế protein có nguồn gốc động vật như bột cá, làm gia tăng tác động của ô nhiễm độc tố mycotoxin trong thức ăn nuôi trồng thủy sản.

Hầu hết các độc tố nấm mốc có khả năng làm giảm sự tăng trưởng và tình trạng sức khỏe của tôm khi ăn phải thức ăn bị ô nhiễm bởi các loại độc tố nấm Aspergillus, PenicilliumFusarium sp. (CAST, 2003). Các chất độc hại này được biết là chất gây ung thư (ví dụ: aflatoxin B1, ochratoxin A, fumonisin B1), estrogenic (zearalenone), gây độc thần kinh (fumonisin B1), gây độc thận (ochratoxin), dermatotoxic (trichothecenes) hoặc ức chế miễn dịch (aflatoxin B1, ochratoxin A và T-2 toxin).

Mặc dù thông tin còn hạn chế, một số nghiên cứu đã được thực hiện về độc tính của mycotoxin đối với động vật không xương sống dưới nước.

Ảnh hưởng của độc tính aflatoxin B1 (AFB1)

Những nghiên cứu này đã tập trung chủ yếu vào aflatoxin B1 (AFB1) có trong chế độ ăn làm ảnh hưởng đến hiệu suất tăng trưởng, tỉ lệ chuyển đổi thức ăn, hệ số tiêu hóa và những rối loạn sinh lý và thay đổi mô học, đặc biệt là trên mô gan.

Theo Bintvihok và cộng sự (2003), mức AFB1 dưới 20 ppb (20µg/kg) có thể đã làm giảm tăng trọng và tăng nhẹ tỷ lệ tử vong chỉ sau 10 ngày. Kết quả mô bệnh học chỉ ra tổn thương gan do AFB1 với những thay đổi sinh hóa trong máu tôm (Bintvihok và cộng sự, 2003). Những phát hiện tương tự đã được báo cáo bởi Bautista và cộng sự (1994) khi quan sát những thay đổi mô bệnh học ở gan tụy của tôm ở mức 25 ppb AFB1. Những ảnh hưởng này đã trở nên trầm trọng hơn khi tăng nồng độ độc tố.

Tăng trưởng của tôm giảm khi nồng độ AFB1 được tăng lên 500 – 2500 ppb. Tỷ lệ sống giảm xuống 26,32% khi đưa 2500 ppb AFB1 vào thức ăn.

Có sự thay đổi mô học rõ rệt ở gan tụy của tôm khi cho chế độ ăn có chứa AFB1 ở nồng độ 100 – 2500 ppb trong 8 tuần, với sự teo gan, sau đó là hoại tử tế bào biểu mô ống. Thoái hóa nghiêm trọng của ống gan tụy là phổ biến ở tôm được cho ăn nồng độ cao AFB1 (Boonyaratpalin và cộng sự, 2001). Các mô gan và tuyến anten bất thường cũng được báo cáo bởi Ostrowski-Meissner và cộng sự (1995) ở tôm cho ăn 50 ppb AFB1/kg chỉ sau 2 tuần. Hiệu quả chuyển đổi thức ăn bị ảnh hưởng đáng kể, nhưng chỉ ở mức AFB1 là 400 ppb. Các hệ số tiêu hóa đã giảm đáng kể ở AFB1 900 ppb (Ostrowski-Meissner và cộng sự, 1995).

Theo Burgos-Hernadez và cộng sự (2005), ảnh hưởng của độc tính AFB1 đối với tôm dẫn đến việc điều chỉnh các quá trình tiêu hóa và sự phát triển bất thường của gan tụy do tiếp xúc với độc tố nấm mốc. Những kết quả này cho thấy ô nhiễm AFB1 trong thức ăn tôm có thể gây thiệt hại kinh tế do sản lượng tôm giảm.

Các loại độc tố gây hại khác trên tôm

Thông tin về tác động của các loại độc tố gây hại khác có thể có trên tôm và các loài giáp xác khác là khan hiếm. Chỉ có một vài nghiên cứu đã được thực hiện để tiếp cận tác động của deoxynivalenol (DON), ochratoxin A (OTA), zearelenone (ZON) và T-2 trong tôm.

Deoxynivalenol, còn được gọi là vomitoxin và trichothecenes loại B khác được sản xuất bởi nấm Fusarium sp. và có thể là một chất gây ô nhiễm quan trọng của lúa mì. Nồng độ Deoxynivalenol 200, 500 và 1000 ppb trong chế độ ăn làm giảm đáng kể trọng lượng và tốc độ tăng trưởng ở tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei (Trigo-Stockli và cộng sự, 2000).

Supamattaya và cộng sự (2006) báo cáo rằng sự tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng đã giảm đáng kể bởi độc tố T-2 ở mức 0,1 ppm trong khi đối với tôm sú giảm sự tăng trưởng được quan sát thấy ở mức 2,0 ppm.

Sự hiện diện của độc tố T-2 ở mức 1,0 – 2,0 ppm làm teo và thoái hóa nghiêm trọng mô gan tụy, viêm và tiếp xúc lỏng lẻo của mô tạo máu và cơ quan bạch huyết trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng sau khi cho ăn 10 tuần và 8 tuần tương ứng. Bệnh lý tương tự đã được tìm thấy ở tôm cho ăn độc tố zearalenone 1,0 ppm (Supamattaya và cộng sự, 2006).

Độc tố T-2 làm teo, thoái hóa mô gan tụy, làm thay đổi mô tạo máu và cơ quan bạch huyết trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng

Nhiều bằng chứng cho thấy việc sử dụng chế độ ăn bị nhiễm độc tố mycotoxin sẽ ức chế hệ thống miễn dịch và giảm khả năng kháng bệnh.

Mycotoxin làm suy yếu hệ thống miễn dịch bao gồm AFB1, T-2 toxin, OTA, DON and fumonisin. Ảnh hưởng của mycotoxin trên phản ứng miễn dịch của động vật trên cạn đã được kiểm tra rộng rãi. Hầu hết các độc tố này gây suy yếu hệ thống miễn dịch bằng cách ức chế tổng hợp các protein quan trọng liên quan đến chức năng miễn dịch. Haemocytes kết hợp với các phagocytes cố định tạo thành các thành phần miễn dịch của hệ thống miễn dịch tôm và như vậy việc giảm số lượng của chúng có thể dẫn đến giảm khả năng kháng bệnh, khiến tôm dễ bị nhiễm bệnh hơn.

Tiêu thụ độc tố nấm mốc mycotoxin gây ức chế đáp ứng miễn dịch bằng cách giảm cả hoạt động thực bào và đại thực bào (Maning, 2001). Giảm số lượng tế bào máu khi nồng độ AFB1 tăng trong chế độ ăn đã được báo cáo bởi Boonyaratpalin và cộng sự (2001) khi cho tôm ăn khẩu phần từ 0 – 2500 ppb AFB1 trong khoảng thời gian 8 tuần.

Sự ô nhiễm của độc tố nấm mốc trong thức ăn, nguyên liệu thô là một thực tế và sự gia tăng của nó trên cơ sở toàn cầu khiến cho bất kỳ loại thức ăn nào được cung cấp đều có thể chứa một hoặc nhiều loại độc tố. Chúng là những độc tố vô hình, không mùi và không vị có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe động vật.

Mặc dù, sự hiện diện của mycotoxin trong thức ăn thể hiện mối đe dọa gia tăng đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản, có một số lựa chọn có sẵn cho các nhà sản xuất và nông dân để ngăn ngừa hoặc giảm nguy cơ nhiễm độc mycotoxin, bao gồm lựa chọn nguyên liệu thô cẩn thận, duy trì điều kiện bảo quản tốt cho thức ăn và nguyên liệu thô, sử dụng sản phẩm khử độc tố mycotoxin.

Theo Aquashrimp Magazine

VĂN THÁI Lược dịch

Nguồn: TepBac.com


 

Kiểm soát độc tố trong thức ăn thủy sản

(Thủy sản Việt Nam) – Độc tố nấm mốc hay còn gọi là Mycotoxin là chất ức chế miễn dịch, làm giảm lượng thức ăn và ảnh hưởng tới sức khỏe thủy sản. Mycotoxin đang ngày càng trở thành mối nguy lớn đối với các nhà sản xuất thức ăn khi mà các nguyên liệu thực vật dần được sử dụng để thay thế bột cá.

Nguyên nhân

Những năm gần đây, tỷ lệ thức ăn thủy sản bị nhiễm Mycotoxin rất lớn, đặc biệt ở các nước có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm như Việt Nam. Theo một cuộc khảo sát mới đây cho thấy, mức độ nhiễm độc tố Aflatoxin và Deoxynivalenol (DON) ở Đông Nam Á cao hơn Bắc Á, trái ngược với trước đây. Trong đó, Fumonisin (FUM) là độc tố Mycotoxin cao nhất trong khu vực với 64% các mẫu phân tích ở mức trung bình 1.688 ppb. Aflatoxin, Zearelenone (ZON), Ochratoxin A (OTA) và Deoxynivalenol (DON) lần lượt xuất hiện với tỷ lệ 55%, 44%, 33% và 30% ở các mẫu.

Nguyên liệu bị nhiễm độc tố ở nhiều giai đoạn và tích lũy thành một quá trình liên tục, bắt đầu từ khu vực đồng ruộng và tăng dần trong suốt thời kỳ thu hoạch, sấy khô và bảo quản. Ở điều kiện nhiệt đới và cận nhiệt đới, nguy cơ nhiễm Mycotoxin càng cao vì thức ăn và ngũ cốc được bảo quản dưới điều kiện ẩm và nóng rất dễ nhiễm nấm mốc.

Cách nhận biết

Trong quá trình nuôi, nếu quan sát thấy thủy sản có tốc độ tăng trưởng giảm, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) cao hơn thông thường; đồng thời chi phí bổ sung các chất phụ gia thức ăn nhiều nhưng không cho kết quả tốt thì có thể thức ăn đã bị nhiễm độc tố nấm mốc. Theo lời khuyên của các chuyên gia, để biết chính xác sự hiện diện của độc tố nấm mốc, các nhà sản xuất nên lấy một mẫu thức ăn của mình để tiến hành kiểm tra và phân tích.

Tác động

Do bản chất nấm mốc có cấu trúc rất đa đạng nên những tác động của chúng đến thủy sản nuôi cũng khá nhiều, từ việc giảm hiệu quả sản xuất đến tăng tỷ lệ chết. Tuy nhiên, các triệu chứng thường không cụ thể nên gây khó khăn cho việc chẩn đoán khó chính xác. Thông thường, các biểu hiện điển hình khi thủy sản bị nhiễm độc tố chủ yếu là thay đổi trên gan như: teo và thoái hóa nghiêm trọng mô gan tụy, viêm và tiếp xúc lỏng lẻo của mô tạo máu và cơ quan bạch huyết trên tôm. Thủy sản tăng trưởng chậm, FCR cao, giảm khả năng miễn dịch và cùng đó là hiệu suất quá trình nuôi giảm.

Ảnh hưởng của độc tố nấm mốc

Kiểm soát

Độc tố nấm mốc khá đa dạng, gồm nhiều loại khác nhau; hơn nữa, các loại độc tố này lại không giống nhau bởi chúng có cấu trúc hóa học khác nhau, tính chất vật lý cũng khác nhau. Vì vậy, cần phải có một cách tiếp cận đa chiến lược, gồm nhiều giải pháp mới có thể ngăn chặn được sự phát triển của độc tố nấm mốc.

Trước tiên, cần lựa chọn nguyên liệu thô cẩn thận, thực hiện tốt quá trình thu hoạch và bảo quản. Kho bảo quản phải đảm bảo các yêu cầu: thoáng mát, tránh được tác động trực tiếp từ bên ngoài như mưa, nắng, bụi…; có các kệ kê các thành phẩm tránh hiện tượng tiếp xúc trực tiếp với mặt đất.

Bao thức ăn phải để cao cách mặt nền và cách vách khoảng 30 – 40 cm. Ngăn chặn chuột, kiến, mọt, mối, gián… vào nơi trữ thức ăn. Cần chú ý những bao thức ăn bị rách (vì khả năng nhiễm nấm mốc sẽ cao). Không để những bao chứa thức ăn cũ (bao không) chung với nơi trữ thức ăn (vì rất dễ nhiễm nấm mốc từ bao không sang bao có thức ăn).

Trong quá trình nuôi, cần ghi chép đầy đủ các thông tin về các chỉ tiêu môi trường (ví dụ: độ mặn, nhiệt độ, hợp chất, ôxy, mưa) và quản lý thức ăn (ví dụ: lượng ăn vào, kiểm tra túi thức ăn, nguyên liệu, hạn dùng, ngày dùng đầu và nhiệt độ lưu kho và độ ẩm). Lấy mẫu thường xuyên để đánh giá năng suất tăng trưởng; đảm bảo rằng các mẫu hầu như đều được lưu kho và cập nhật để giảm thời gian phản ứng với các vấn đề tiềm ẩn.

Áp dụng các biện pháp loại bỏ độc tố như sử dụng dung môi. Các dung môi được dùng nhiều nhất là axeton, benzen, cloroforms. Hoặc có thể khử độc tố trong cơ thể động vật bằng cách gắn chúng với các chất hấp phụ. Nhờ đó mà chúng sẽ không được hấp thu vào máu và không còn gây độc cho cơ thể thủy sản. Một số chất hấp phụ hay dùng như các chất khoáng sét (Clay minerals), than hoạt tính…

Nguyễn Hằng

 

Chia sẻ

Quay lại