Dự án tăng quy mô sản xuất tôm trong module biofloc an toàn sinh học ở Malaysia

Quay lại

Dự án tăng quy mô sản xuất tôm trong module biofloc an toàn sinh học ở Malaysia

: 5178

Sản xuất tôm an toàn sinh học quy mô lớn trong các ao nuôi sử dụng hệ thống biofloc đang có nhiều cải tiến ở Malaysia.

Tóm tắt: Dự án khu trang trại nuôi tôm (iSHARP) tổ hợp quy mô lớn ở Malaysia đang tiến đến hoàn tất giai đoạn một. An toàn sinh học là ưu tiên ở iSHARP. Thiết kế của mỗi khu cho phép từng module hoặc các ao riêng được “đóng lại” để phòng ngừa bệnh khỏi lây lan. Nước được bơm qua các ao xử lý trước khi đưa vào các ao nuôi tăng trưởng. Các cửa an toàn đầu vào và ra ngăn ngừa sự nhiễm bệnh giữa các ao và các kênh, bảo tồn nước đã xử lý trong hệ thống tuần hoàn khép kín. Xử lý đầu ra gồm 4 giai đoạn.

Tiến sĩ Nyan Taw, Cố vấn kỹ thuật cao cấp, Blue Archipelago Berhad, Selangor, Malaysia

Thạc sĩ Umar Saleh, Khu trang trại iSHARP, Blue Archipelago Berhad

Dự án khu trang trại nuôi tôm (iSHARP) tổ hợp quy mô lớn do Công ty Blue Archipelago Berhad ở Malaysia khởi động năm 2009 đang tiến đến hoàn tất giai đoạn hoạt động đầu tiên. Dựa vào hệ thống tái tuần hoàn khép kín an toàn sinh học sử dụng công nghệ biofloc cùng với trại ương và nhà máy chế biến liên kết, iSHARP đặt hy vọng xây dựng 216 ao nuôi diện tích mỗi ao 0,5 ha vào cuối năm 2012. Mục tiêu của iSHARP là hoàn thành xong hơn 600 ao nuôi và ao lắng để nuôi tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei trên 1.000 ha đất.

Dự án đặt ở Setiu bang Terengganu, đông bắc Kuala Lumpur. Tổng số 144 ao đang hoạt động khi bài báo này được viết vào giữa tháng 11 năm 2012. Không có báo cáo về trường hợp nào của hội chứng đốm trắng (WSSV) hoặc hội chứng tôm chết sớm (EMS) ở trang trại nuôi.

Module an toàn sinh học

An toàn sinh học là việc ưu tiên ở iSHARP. Mỗi khu hoặc module nuôi thương phẩm gồm 2 dãy 12 ao nuôi tăng trưởng với 4 ao xử lý. Thiết kế này giúp cho từng module hoặc các ao riêng hoàn toàn được “đóng lại” để phòng ngừa bệnh lây lan.

Nước từ kênh cấp chính được bơm qua các ao xử lý trước khi đưa vào kênh cấp của module – kênh này được nâng lên để giữ khô khi không sử dụng. Các đê được lót bạt nhựa HDPE có rào chắn cua khoảng 30 cm bên ngoài vành đai ao.

Các kênh tháo nước có lót bạt được dùng chung giữa hai module. Các cửa an toàn vào và ra ngăn ngừa sự nhiễm bệnh giữa các ao nuôi và các kênh, giúp bảo quản nước đã qua xử lý trong hệ thống không thay nước. Các ao nuôi có chỗ thu hoạch ở mỗi ao để tránh ô nhiễm với nước thải sau thu hoạch.

Các biện pháp an toàn sinh học chủ yếu được áp dụng để phòng ngừa bùng phát hội chứng đốm trắng. Ngoài các biện pháp cơ bản như lưới chắn chim và rào ngăn cua, các quy trình thực hành an toàn sinh học trang trại khác bao gồm giữ trang thiết bị trang trại sạch và kiểm soát hoạt động của các kỹ thuật viên và quản lý ao.

Một khi các ao được thả giống, lượng biofloc là yếu tố chính cần kiểm soát.

Các biện pháp an toàn sinh học nghiêm ngặt cũng cần áp dụng với khách tham quan trước khi vào cơ sở nuôi tăng trưởng. Tất cả khách tham quan cần làm đúng quy tắc đơn giản: Xem, nhưng không chạm.

Xử lý nước nuôi

Nước biển dùng cho toàn bộ trang trại được lấy qua một đường ống lót bạt HDPE từ ngoài khơi cách xa 1,8 km đến một trạm bơm thể tích lớn. Từ trạm bơm chính, nước được phân bổ qua kênh chính lót bạt HDPE dài 2,5 km đến các module nuôi.

Không có khả năng nào gây nhiễm khuẩn máy bơm chính bởi máy đặt trên đê khi không hoạt động. Các đường ống đầu vào đều gắn các tấm lưới cỡ 250 μ phủ thêm lưới cỡ 1.000 μ để làm chắc tấm lưới. Sau đó nước phải đi qua các ao xử lý trước khi được bơm vào các kênh cấp cho module.

Trong suốt giai đoạn này, nước được xử lý bằng chất diệt giáp xác nồng độ 1 ppm để diệt cua và các vật mang mầm bệnh tiềm tàng khác có thể xâm nhập vào module. Nước biển cuối cùng chảy thẳng vào các ao và để ổn định trong 74 giờ – thời điểm này hạt virut hội chứng đốm trắng tan rã vì không có sự sống của vật chủ để lây nhiễm.

Xử lý đầu ra

Dự án được thiết kế theo hệ thống nuôi trồng thủy sản tái tuần hoàn khép kín. Tất cả nước thải được trực tiếp đưa đến bể lắng chính để xử lý cho việc tái sử dụng hoặc thải trở lại vào môi trường.

Hệ thống xử lý gồm 4 giai đoạn. Ngoài ao lắng, các kênh lớn xử lý thứ nhất và thứ hai có nuôi cá, trai, hàu và rong biển phục vụ cho quá trình lọc sinh học các hạt lơ lửng và quá trình nitrat hóa các chất hòa tan đầu ra. Các ao thứ 4 và cuối cùng cung cấp sục khí và xử lý hóa chất bằng chlorine hoặc rải vôi trước khi nước được trở lại vào kênh cấp chính hoặc để thải ra ngoài. Các thông số chất lượng nước như nhu cầu oxy hóa học và sinh hóa, tổng lượng nitơ amonia và phosphate được kiểm tra thường lệ theo các quy định của chính phủ Malaysia.

Công nghệ biofloc

Các yêu cầu cơ bản để tối ưu hóa và bền vững nuôi tôm thương phẩm công nghệ biofloc là các ao phải lót bạt HDPE hoặc bê tông. Yêu cầu mật độ thả cao từ 130 – 150 PL/m2 và tốc độ sục khí cao từ 28 – 32 hp/ha để đem lại năng suất mong đợi trên 20 tấn/ha. Hiệu suất năng lượng là 680 kg/hp và có thể cao tới mức 1.000 kg/hp khi thu hoạch từng phần.

Sục khí bánh guồng đặt trong các ao để duy trì mức oxy hòa tan cao, giữ biofloc lơ lửng và đưa bùn về khu vực giữa ao. Sau đó bùn có thể được siphon định kỳ khi cần thiết.

Biofloc là các cụm kết dính vi khuẩn, tảo, protozoa với mùn bã và các hạt hữu cơ chết. Sục khí giữ cho biofloc lơ lửng trong nước ao – đây là yêu cầu chính để tối đa hóa khả năng các quá trình hoạt động của vi khuẩn trong ao nuôi tôm. Biofloc lơ lửng cũng là nguồn thức ăn sẵn có cho tôm.

Ngũ cốc dạng viên và mật đường được sử dụng để giữ tỷ lệ cacbon:nitơ trên 15. Ngoài việc bổ sung các hóa chất điển hình như dolomite và vôi thì cần sử dụng kaolin (cao lanh) trong quá trình chuẩn bị nước ao và trong giai đoạn nuôi, với lượng khoảng 50 – 100kg/ha.

Hoạt động, kiểm soát

Chỉ nên thả tôm giống sạch bệnh SPF. Khi ao đã thả giống, một yếu tố chính cần kiểm soát là khối lượng biofloc. Sử dụng phễu Imhoff để đánh giá và cần duy trì khối lượng biofloc ở mức dưới 15 ml/L đối với hệ thống biofloc toàn phần và 5 mL/L đối với hệ thống biofloc bán phần. Cần đồng thời lấy ít nhất hai mẫu từ hai vị trí dưới bề mặt nước trong ao nuôi. Nước màu xanh lá cây hay màu nâu thì chấp nhận được, nhưng nước màu đen là biểu hiện của các điều kiện bất thường.

Ngũ cốc dạng viên và mật đường cung cấp nguồn carbon khi cần thiết. Nói chung, dùng ngũ cốc dạng viên từ 15 – 20% trên tổng lượng thức ăn sử dụng trong suốt quá trình nuôi. Mật đường có thể dùng hai hoặc ba lần/tuần theo liều lượng khoảng 15 – 20 kg/ ha/ ao. Cần theo dõi lượng oxy hòa tan thường xuyên để giữ ở mức cao hơn 4 mg/L. Đặc biệt trong hệ thống nuôi biofloc, sục khí / quạt nước cần được theo dõi liên tục về sự cố máy móc và để sửa chữa hoặc thay thế không được chậm trễ.

Thời điểm này, hầu hết các ao tại iSHARP sử dụng hệ thống “bán biofloc” để huấn luyện các kỹ thuật viên. Chỉ có vài ao là áp dụng mức biofloc toàn phần.

Trong suốt các thực nghiệm, khi giai đoạn gió mùa, lượng mưa lớn và ngập lụt đến gần, thả mật độ 40, 60, 80 và 130 PL/m2 (biofloc toàn phần) để xác định mức chuẩn cho trang trại. Đối với vụ nuôi thương phẩm đầu tiên, 2 module ao ban đầu được thả mật độ 100 PL/m2 và áp dụng công nghệ biofloc bán phần. Hiện nay, 2 module đang ở vụ thứ 3 trong điều kiện nuôi bình thường.

Hiệu suất

Số liệu hiệu suất của nuôi thực nghiệm và nuôi thương phẩm đầu tiên được hiển thị ở Bảng 1, Hình 1 và 2. Thực nghiệm là một thành công nhưng như dự liệu đã có các vấn đề về quản lý và môi trường do lượng mưa lớn và ngập lụt. Độ mặn rơi từ 22 ppt xuống thấp đến 12 ppt trong 2 tuần, sau đó tụt xuống 4 ppt ở một số ao. Nhiệt độ thấp ở 24 °C trong suốt vụ nuôi.

Hình 1. Tốc độ tăng trưởng của tôm ở dự án iSHARP.

Hình 2. Lượng mưa, độ mặn và nhiệt độ nước ở dự án ao nuôi iSHARP.

Mưa lớn gây mực nước ao cao, đôi khi mực nước ở kênh xả cao hơn trong ao làm không thể siphon bùn và dẫn đến tình trạng môi trường nước ao không ổn định. Do các lý do này, 2 ao biofloc phải thu hoạch vội vã. Hai ao còn lại hoạt động tốt nhưng dưới hiệu suất mục tiêu. Các ao mật độ thấp có hiệu suất như mong đợi.

Vụ thương phẩm đầu tiên thả mật độ 100 PL/m2 có năng lượng sử dụng là 24 hp/ha và điều kiện bán biofloc, năng suất tốt hơn mong đợi. Mục tiêu là để sản xuất trung bình 7 tấn/ao, nhưng thu hoạch đạt 7,7 – 8,5 tấn/ao. Các điều kiện môi trường ổn định trong suốt giai đoạn có độ mặn cao và nhiệt độ cao.

Tôm ở vụ nuôi thương phẩm kéo dài 100 ngày để đạt cỡ bán trên thị trường trung bình là 16 và 16,3 g. Về hệ số chuyển đổi thức ăn, cả 2 module có hiệu suất như mong đợi với tỉ lệ trong khoảng 1,39 và 1,26, một số ao có tỉ lệ thấp là 1,2. Một yếu tố kinh tế quan trọng khác là hiệu quả năng lượng. Như mong đợi, trong các hệ thống biofloc, hiệu suất năng lượng nằm trong khoảng 643 và 712 kg/hp.

Do các trường hợp thả giống quá nhiều trong vụ nuôi thương phẩm, cho thấy tỉ lệ sống vượt 100%. Bởi tỉ lệ sống là công cụ quan trọng để kiểm soát công suất tải của ao trong vận hành ao nuôi, iSHARP cần chuẩn bị để đối phó với tình hình này, khả năng sử dụng một máy đếm tự động để chính xác hơn trong tương lai. Để giải quyết tỉ lệ sống, các kế hoạch đối phó có thể tính đến thêm năng lượng đầu vào và thu hoạch sớm hoặc từng phần.

Các ao lót bạt giảm thời gian chuẩn bị ao và giúp sản xuất hơn 2 vụ một năm. Khả năng có thể là khoảng 2,4 vụ trong năm.

Bảng 1. Hiệu suất tôm trong nuôi thực nghiệm và vụ đầu tiên

 

Thực nghiệm – Module 1 và 2

Vụ 1 – Module 1 và 2

 

Mật độ

 (40/m2)

Mật độ

 (60/m2)

Mật độ

 (80/m2)

Mật độ

 (130/m2)

Mật độ

 (100/m2)

Mật độ

 (100/m2)

Số lượng ao

Sục khí (hp)

Ngày nuôi

Tỉ lệ sống (%)

Trọng lượng con (g)

Hệ số chuyển đổi thức ăn

Năng suất trung bình (kg/ao)

Năng suất trung bình (kg/ha)

Năng suất/điện đầu vào (kg/hp)

20

12

113

112,23

21,65

1,34

4.875

9.749

406

16

12

108

101,22

17,41

1,47

5.294

10.587

441

8

12

94

106,05

13,86

1,32

5.828

11.655

486

4 Biofloc

16

88

69,56

12,56

1,74

5.677

11.354

355

24 Biofloc

12

100

97,30

16,05

1,39

7.714

15.428

643

24 Biofloc

12

99

104,92

16,31

1,26

8.547

17.093

712

BioAqua.vn

Nguồn: The Advocate Global Aquaculture – Tháng 01-02/2013

Chia sẻ

Quay lại