EMS và AHPND không giống nhau

Quay lại

EMS và AHPND không giống nhau

: 1321

Hình: Mô gan tụy được nhuộm Hematoxylin – Eosin của tôm hấp hối bị lây nhiễm với các phân lập khác nhau của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus. (A) Mặt cắt mô của tôm đối chứng. (B) Các mẫu mô của tôm bị lây nhiễm phân lập pirA/pirB+ có biểu mô gan tụy vỡ. (C) Các mẫu mô của tôm bị lây nhiễm phân lập pirA+/pirB+ có các tế bào biểu mô ống gan tụy bong tróc đặc trưng của bệnh AHPND.

Tóm tắt: Kể từ lần đầu tiên xuất hiện vào năm 2009, bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) đã gây ra tổn thất lớn cho các trang trại nuôi tôm trên toàn thế giới. Tác nhân gây bệnh đã được báo cáo vào năm 2013 khi đó các chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus (VPAHPND) cụ thể mà sau đó được phát hiện có chứa một plasmid (pVA) mã hóa các gen độc tố nhị phân Pir vpA và Pir vpB tương tự như độc tố của Photorhabdus spp (Pir). Các phân lập VPAHPND chiếm cứ dạ dày tôm và giải phóng độc tố nhị phân gây ra sự bong tróc lớn của các tế bào biểu mô hình ống vàgây chết. Nhiều thông tin gần đây chỉ ra rằng pVA plasmid và các biến thể xảy ra ở nhiều kiểu huyết thanh V. parahaemolyticus và cả ở các loài Vibrio khác như V. campbellii, V. harveyiV. owensii.

Trong bài báo này, các nhà nghiên cứu xem xét các nghiên cứu về bộ gen và protein trên các phân lập VPAHPND khác nhau từ khắp nơi trên thế giới.

Một nghiên cứu đoàn hệ được thực hiện tại Thái Lan vào năm 2014 chỉ ra rằng dịch bệnh AHPND chỉ chiếm một phần trong các đợt dịch bệnh được báo cáo bởi những người nuôi tôm là sự bùng phát của hội chứng tôm chết sớm (EMS).

Giới thiệu: Bản tóm tắt ban đầu về tổng quan hội chứng tôm chết sớm (EMS) này được trình bày tại Hội nghị chuyên đề Quốc tế về bệnh trong nuôi trồng thủy sản châu Á lần thứ 10 ở Bali, Indonesia, vào tháng 8 năm 2017. Kể từ cuộc họp đó, một số báo cáo mới quan trọng đã được công bố và họ đã đưa vào đánh giá này.

Vào khoảng năm 2009, những người nuôi tôm châu Á đã đặt ra thuật ngữ “hội chứng tôm chết sớm” để mô tả tỷ lệ chết cấp tính, không giải thích được trong ao của họ trong vòng 30 ngày đầu tiên sau khi nuôi. Đến giữa năm 2011, các nhà khoa học đã xác định được một hồ sơ mô bệnh học mới ở một số loài tôm có đặc điểm là sự bong tróc hàng loạt cấp tính của các tế bào biểu mô ống gan tụy trong trường hợp không có bất kỳ tác nhân gây bệnh nào có thể nhận ra. Điều này được gọi là hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) và chính sự hiểu biết quan trọng này đã mở đường cho việc phát hiện ra các chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus độc nhất là tác nhân gây bệnh của AHPNS. Sau khi tác nhân gây bệnh được tiết lộ, tên của bệnh đã được đổi thành bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) và các phân lập vi khuẩn gây bệnh được gọi là “các phân lập VPAHPND”.

Các nhà khoa học sau đó phát hiện ra rằng các phân lập VPAHPND mang một plasmid độc nhất (pVA) có chứa các gen độc tố tương tự Pir là Pir vpA và Pir vpB, nguyên nhân gây ra mô bệnh học AHPND trong gan tụy tôm.

AHPND gây ra tỷ lệ chết trong các ao nuôi tôm, nhưng sự tràn lan của nó có thể bị đánh giá quá cao nếu nó bị đánh đồng một cách nhầm lẫn với EMS. Từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014, các nhà nghiên cứu ở Thái Lan đã thực hiện một nghiên cứu về tỷ lệ phổ biến của nó trên 200 ao nuôi tôm được chọn ngẫu nhiên ở các khu vực đã được báo cáo trước đây. EMS đã được tìm thấy ở 16% các ao, nhưng chỉ 56% trong số các ao đó được chẩn đoán là ao nhiễm AHPND, việc này cho thấy rằng một tỷ lệ lớn tôm chết sớm là do một số nguyên nhân khác. Vì lý do này, điều quan trọng là chẩn đoán nguyên nhân gây chết tôm trong các ao EMS và không đánh đồng nó với AHPND.

Tiến triển trong nghiên cứu về AHPND ở Thái Lan kể từ khi phát hiện ra tác nhân gây bệnh năm 2013 đã tập trung vào đặc tính của các phân lập VPAHPND và phát triển các phương pháp phát hiện phân tử dựa trên độc tố protein PirvpA và PirvpB hoặc gen tương ứng của chúng. Các biến thể về độc lực cũng đã được báo cáo trong số các phân lập VPAHPND riêng lẻ. Gần đây, các loài Vibrio gây AHPND tạm thời ​​được xác định là V. harveyi, V. campbelliV. owensii cũng đã được tìm thấy có chứa các plasmid độc pVA bị nghi ngờ đã thu được bằng cách chuyển gen từ các phân lập VPAHPND.

Bài viết cũng xem xét các chủ đề kỹ thuật sau đây:

• Nghiên cứu về Protein của VPAHPND

• Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến độc lực VPAHPNDtrên tôm

• Cơ chế bệnh lý AHPND ở tôm

• Phát hiện độc tố AHPND bằng các kháng thể đơn dòng

BioAqua.vn

Nguồn: https://www.shrimpnews.com/ Journal of the World Aquaculture Society. Update on Early Mortality Syndrome/Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease by April 2018. Anuphap Prachumwat, Suparat Taengchaiyaphum, Natthinee Mungkongwongsiri, Diva J. Aldama-Cano, Timothy W. Flegel and Kallya Sritunyalucksana (Email kallaya@biotec.or.th, Shrimp‐Pathogen Interaction Laboratory, Animal Biotechnology Research Unit, National Center for Genetic Engineering and Biotechnology (BIOTEC), National Science and Technology Development Agency, Yothi Office, Rama VI Road, Bangkok 10400, Thailand). Volume 50, Issue 1, Pages 5-17, September 4, 2018. Published Online on February 4, 2019./ https://www.was.org/Meetings/ShowAbstract.

 

 

Chia sẻ

Quay lại