Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) trong nuôi tôm

Quay lại

Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) trong nuôi tôm

: 532

Người nuôi tôm có thể không hiểu hết mối liên quan giữa hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và chất thải thức ăn. FCR là khối lượng thức ăn đã sử dụng chia cho khối lượng tịnh của tôm thu hoạch. Một số người có thể nghĩ khi FCR là 1,5 nghĩa là 1,5 kg thức ăn sẽ cung cấp 1 kg tôm và sinh ra 0,5 kg chất thải. Đây sẽ là cách đánh giá thấp tổng lượng phát sinh chất thải khi cho tôm ăn.

Mối quan hệ giữa thức ăn đầu vào, sản lượng tôm và lượng chất thải phát sinh sẽ được phân tích kỹ lưỡng hơn. Thức ăn sử dụng trong nuôi trồng thủy sản thường là dạng viên khô. Thức ăn tôm chứa khoảng 90% chất khô và 10% nước. Mặt khác, tôm có khoảng 25% chất khô và 75% nước. Vì vậy, việc sản xuất 1 kg tôm cần 1,5 kg thức ăn (hệ số chuyển đổi thức ăn là 1,5) thì 1,35 kg chất khô trong thức ăn tạo ra 0,25 kg chất khô trong tôm. Theo một quan điểm về sinh thái thì 1,35 kg (1,5 kg thức ăn x 0,9) chất dinh dưỡng khô đã được sử dụng để tạo ra 0,25 kg (1 kg tôm x 0,25) chất khô trong tôm. Như vậy, hệ số chuyển đổi chất khô chỉ là 5,4 (1,35 kg thức ăn khô / 0,25 kg tôm khô). Tỷ lệ giữa tôm so với chất thải 1:0,5 dựa trên phương pháp thông thường để ước lượng hệ số chuyển đổi thức ăn là một tỷ lệ hiển nhiên, nhưng tỷ lệ thực căn cứ trên chất khô là 1:4,4.

Giả sử một loại thức ăn tôm có 35% protein thô và 1,2% phospho. Protein thô được ước tính theo tỷ lệ phần trăm nitơ nhân với 6,25, vì vậy loại thức ăn này có 5,6% N và 1,5 kg thức ăn loại này có 84 g nitơ (1.500 g thức ăn x 0,056) và 18 g phospho (1.500 g thức ăn x 0,012). Một kg tôm được sản xuất bởi loại thức ăn này sẽ có 0,25 kg chất khô và chất khô trong tôm có khoảng 11% nitơ và 1,25% phospho, nghĩa là có 27,5 g nitơ (250 g tôm khô x 0,11) và 3 g phospho (250 g tôm khô x 0,0125) ở trong tôm.

Sự chênh lệch giữa khối lượng nitơ và phospho trong thức ăn và trong tôm thu hoạch thể hiện cho khối lượng nitơ và phospho trong nước ao. Trong ví dụ này, mỗi kg tôm sống sẽ đưa đến 56,5 g nitơ và 15 g phospho trong chất thải. Trên cơ sở tính theo tấn thì sẽ là 56,5 kg nitơ và 15 kg phospho.

Trong một ao không thay nước, đa phần nitơ và phospho sẽ thoát ra khỏi nước. Nitơ sẽ mất vào không khí qua quá trình bay hơi amoniac và vi khuẩn khử nitrát. Một lượng nitơ sẽ có trong chất hữu cơ lắng tụ ở đáy ao và phospho sẽ được hấp thụ bởi trầm tích. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy khoảng 50% nitơ và 65% phospho được cho trong thức ăn có thể thoát ra khỏi nước trong ao không thay nước thông qua các quá trình vật lý, hóa học và sinh học. Xem như khoảng 25 – 35% lượng nitơ và 15 – 25% lượng phospho cho trong thức ăn lấy lại được trong tôm thu hoạch thì chỉ có 15 – 25% lượng nitơ và 10 – 20% lượng phospho cho trong thức ăn sẽ có thể mất đi trong nước thải ở ao tháo cạn. Tất nhiên, khi thay nước thì lượng nitơ và phospho sẽ mất nhiều hơn ở đầu ra, bởi vì lượng lớn nitơ và phospho sẽ được rửa trôi khỏi ao trước khi thoát ra thông qua các quá trình lọc tự nhiên trong ao. Ngay cả trong một ao không thay nước, lượng nitơ và phospho mất đi ở ao tháo cạn có thể là 12,6 – 21 kg nitơ và 1,8 – 3,6 kg phospho khi sản xuất 1 tấn tôm với hệ số chuyển đổi thức ăn là 1,5 (xem ví dụ ở trên). Vì vậy, đối với các cấp độ sản xuất khác nhau, lượng nitơ và phospho đầu ra có thể như sau:

Năng suất (kg) Nitơ (N) (kg/ha) Phospho (P) (kg/ha)
500 6,3 – 10,5 0,9 – 1,8
1000 12,6 – 21 1,8 – 3,6
2000 25,0 – 42 3,6 – 7,2
3000 37,8 – 63 5,4 – 10,8
4000 50,4 – 84 7,2 – 14,4

 

Số liệu đầu ra này thể hiện một lượng nitơ và phospho khá lớn. Nước thải từ nuôi trồng thủy sản có thể là một mối đe dọa dẫn đến hiện tượng phì dưỡng ở các vùng nước tự nhiên khi nước thải được đưa vào đó. Hiện tượng phì dưỡng là sự tăng năng suất tự nhiên do gia tăng các mức dinh dưỡng và trong một số trường hợp sẽ dẫn đến tảo nở hoa và mức oxy hòa tan thấp.

Nhiều biện pháp có thể được thực hiện để tránh hoặc giảm thiểu hiện tượng phì dưỡng như sau:

– Giảm thiểu thay nước. Bằng cách giữ nước lại trong ao lâu hơn thì sẽ có nhiều cơ hội cho lượng nitơ và phospho thoát ra theo quá trình tự nhiên.

– Sử dụng thức ăn chất lượng cao. Thức ăn lâu tan trong nước giúp tôm có thể ăn được gần hết. Ngoài ra, thức ăn chất lượng cao dẫn đến ít phân và chất thải chuyển hóa.

– Sử dụng thức ăn có hàm lượng nitơ và phospho thấp nhất tương thích với chất lượng thức ăn tốt. Cách này sẽ giảm thiểu lượng nitơ và phospho trong chất thải.

– Cho ăn một cách thận trọng. Cho ăn quá mức dẫn đến thức ăn bị lãng phí và tăng lượng chất thải. Quan trọng là cho tôm ăn hết thức ăn đưa vào ao nuôi vì cả hai lý do kinh tế và môi trường.

– Khi tháo cạn ao, cố gắng giảm thiểu vận tốc nước thải đầu ra để bùn (trầm tích) không tái lơ lửng từ đáy ao. Cách làm này sẽ giảm lượng nitơ và phospho hữu cơ trong nước thải đầu ra bằng cách giữ lại các hạt hữu cơ trong ao.

– Duy trì hàm lượng oxy hòa tan tốt trong ao bằng cách không thả mật độ dày và cho ăn quá nhiều để ao có thể đồng hóa hầu hết các chất thải. Khả năng đồng hóa của các ao có khác nhau, các ao có sục khí có thể đồng hóa chất thải nhiều hơn các ao không có sục khí. Hàm lượng oxy hòa tan tốt tạo thuận lợi cho quá trình oxy hóa amoniac thành nitrát và sau đó nitrát có thể được khử nitrát ở bùn đáy ao.

– Phơi đáy ao và rải vôi đáy ao axit giữa các vụ thu hoạch tạo thuận lợi cho quá trình phân hủy chất hữu cơ. Cách này sẽ làm giảm sự tích tụ chất hữu cơ ở đáy ao. Ít chất hữu cơ ở đầu vụ nuôi sẽ giảm thiểu khả năng chất lượng đáy ao kém ở vụ nuôi sau.

BioAqua.vn

Nguồn: Claude E. Boyd, Ph.D., Department of Fisheries and Allied Aquacultures
Auburn University, Auburn, Alabama 36849 USA – Management practices for reducing the environmental impacts of shrimp farming

 

Chia sẻ

Quay lại