Kiểm soát bùn đáy ao nuôi tôm

Quay lại

Kiểm soát bùn đáy ao nuôi tôm

: 995

Bùn đáy hữu cơ còn được biết đến là tổng lượng chất hữu cơ Total Organic Matter (TOM)/ nhu cầu oxy sinh hóa – Biochemical Oxygen Demand (BOD) – đây là thông số quan trọng thể hiện chất lượng nước ao nuôi phổ biến nhất có những hệ quả to lớn đến thành công và năng suất trong nuôi tôm công nghiệp/ nuôi tôm thâm canh.

Bùn đáy hữu cơ trong ao được hình thành từ thức ăn dư thừa, phân, xác vỏ tôm chết, tảo chết, sinh vật phù du và tất cả các vật liệu phân hủy hữu cơ khác trong chu kỳ tăng trưởng. Chúng được gọi chung là Total Organic Matter (TOM) và chúng làm tăng nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) của nước ao. Sau khi thu hoạch, bùn đáy hữu cơ (lớp trên cùng) thường được loại bỏ vật lý sau khi phơi khô. Quá trình này tốn thời gian, tốn kém và thường không đầy đủ dẫn đến chất thải hữu cơ còn sót lại. Bùn hữu cơ có thể giải phóng các chất độc hại như NO2, NH3 và H2S khiến cho tôm nuôi căng thẳng. Tình trạng sẽ dần xấu đi vì trong chu kỳ tăng trưởng khi có nhiều chất thải hữu cơ bị tích lũy từ việc cho ăn hàng ngày. Sự tích tụ bùn hữu cơ cuối cùng dẫn đến sự tăng sinh của vi khuẩn không mong muốn như các loài Vibrio và các loài vi khuẩn gram âm khác, tảo nở hoa, nhiễm virut, suy giảm oxy hòa tan, tốc độ tôm nuôi tăng trưởng kém, tỷ lệ chết cao hơn, năng suất thấp hơn, không đảm bảo an toàn sinh học và an toàn thực phẩm.

Nuôi tôm hiện nay sử dụng men vi sinh để tiêu hóa bùn đáy hữu cơ và tận dụng các hợp chất hữu cơ phân hủy để phát triển biofloc và hỗ trợ hệ sinh thái ao khỏe mạnh. Ước tính khi biofloc được phát triển đúng cách có thể thay thế trên 25% lượng thức ăn trong chu kỳ tăng trưởng vì tôm thích ăn sinh khối vi sinh vật giàu protein (protein đơn bào) và tăng năng suất. Tuy nhiên, điều rất quan trọng là phải chọn đúng chủng vi sinh vật cho khả năng tương thích của chúng để phát triển trong hệ sinh thái ao, môi trường sống tự nhiên như hệ vi sinh vật đường ruột, tác dụng hiệp đồng và tăng trưởng nhanh hơn trong điều kiện ao nuôi, thay thế kháng sinh, tăng cường an toàn sinh học và an toàn thực phẩm.

• Vi khuẩn có lợi Probiotic cải thiện sức khỏe của tôm bằng cách kiểm soát mầm bệnh; cải thiện chất lượng nước và đất đáy ao bằng cách điều chỉnh cộng đồng vi sinh vật.

• Vi khuẩn có lợi Probiotic xâm nhập vào đường ruột hỗ trợ tiêu hóa; cạnh tranh vị trí và dinh dưỡng để ức chế vi khuẩn gây bệnh; kích thích đáp ứng miễn dịch.

Vấn đề lưu tâm là sự thay đổi của cộng đồng vi khuẩn cần có thời gian. Đây là một quá trình liên tục đòi hỏi phải định kỳ bổ sung các chủng vi khuẩn có lợi trong suốt thời gian nuôi. Nhiều người nuôi tôm thường nghĩ rằng men vi sinh như thuốc như kháng sinh nên mong đợi hiệu quả nhanh chóng và quyết định. Sau đó, họ không sử dụng men vi sinh khi kết quả không ngay lập tức. Các dòng vi khuẩn phải được chọn lọc dựa vào các chức năng cụ thể và chúng phải được bổ sung vào với nồng độ cao hơn và trong điều kiện môi trường phù hợp để có hiệu quả (thực hành nuôi trồng thủy sản tốt nhất – BAP). Người nuôi cần quan sát đầy đủ các chỉ tiêu sinh hóa lý của nước và đất đáy ao để có liều lượng men vi sinh hợp lý nhằm đạt hiệu quả xử lý tích cực. Người nuôi nên sử dụng vi sinh trước, trong và sau vụ nuôi để xử lý triệt để bùn đáy hữu cơ.

Các thông số chất lượng nước quan trọng khác như oxy hòa tan, tổng nitơ amoni (TAN) và hàm lượng nitrit trong ao luôn phải được kiểm soát tốt để môi trường duy trì ổn định giúp tôm nuôi phát triển tốt.

Sử dụng kết hợp men vi sinh AquaViveNutraPro để làm sạch môi trường nước và bùn đáy hữu cơ bao gồm các chất thải ẩn trong lớp bùn đáy mà không cần làm khô và loại bỏ cơ học nhằm đảm bảo an toàn sinh học và bền vững cho môi trường hệ sinh thái ao nuôi tôm công nghiệp.

BioAqua.vn

 

 

Cơ chế hoạt động của men vi sinh trong cơ thể tôm. Probiotic mang lại lợi ích thông qua các cơ chế khác nhau. Những vi sinh vật có lợi này có khả năng tạo ra các chất ức chế có thể tương tác trực tiếp với mầm bệnh vi khuẩn và virus (Iyapparaj và cộng sự, 2013; Sag và cộng sự, 2010; Vaseeharan và Ramasamy, 2003).

Probiotic cũng có khả năng điều khiển hệ sinh thái ao như hệ vi sinh vật (Boonthai và cộng sự, 2011) và các điều kiện hóa lý (Zokaeifar và cộng sự, 2014). Bổ sung men vi sinh vào chế độ ăn giúp thúc đẩy tăng trưởng (Johansson và cộng sự, 2000) nhờ vào các enzyme làm tăng khả năng tiêu hóa (Leonel Ochoa-Solano và Olmos-Soto, 2006).

Probiotic cũng có khả năng điều khiển hệ vi khuẩn của vật chủ (Makridis và cộng sự, 2005; Preetha và cộng sự, 2007). Việc bảo vệ khỏi mầm bệnh sau khi điều trị bằng men vi sinh có thể được quy cho là sự ức chế trực tiếp các chất gây bệnh hoặc khả năng của men vi sinh trong việc điều chỉnh hệ thống miễn dịch của tôm (Chiu và cộng sự, 2007; Fu và cộng sự, 2011).

Nguồn: Mechanisms of probiotic actions in shrimp: Implications to tropical aquaculture

 

 

Chia sẻ

Quay lại