Làm thế nào để hạn chế Nitrite NO2 trong ao nuôi tôm

Quay lại

Làm thế nào để hạn chế Nitrite NO2 trong ao nuôi tôm

: 3516

Thức ăn giàu protein, phân tôm, xác tảo, sinh vật phù du chết, vv… sẽ hình thành lớp bùn đáy hữu cơ trong ao góp phần tạo ra amoniac (NH3) và nitrite (NO2), cả hai chất này đều không mong muốn có trong nước ao. Thức ăn công nghiệp cho tôm có hàm lượng đạm (nguồn nitơ) dao động từ 30 – 40%. Phần lớn protein này được tôm sử dụng làm nguồn năng lượng bằng cách oxy hóa chúng. Các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất này là amoni (NH4+) và amoniac (NH3) được bài tiết qua mang vào nước ao. Ngoài ra, sự phân hủy bùn đáy hữu cơ, trong điều kiện nồng độ oxy thấp, góp phần tạo ra hợp chất amoni. Tất cả được gọi chung là tổng nitơ amoni (TAN) có hại cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm.

Hơn nữa, chỉ vào khoảng 25 – 35% protein (nitơ) trong thức ăn được chuyển hóa giữ lại trong cơ thể tôm lúc thu hoạch trong khi 65 – 75% được thải ra môi trường nước ao ở dạng TAN. Trong số các chất thải nitơ (TAN), NH3 và NO2 là các chất độc hại đối với tôm và ảnh hưởng đáng kể đến sự tăng trưởng, sức khỏe và tỉ lệ sống của tôm, do đó cần được loại bỏ đều đặn do hiệu ứng độc tính của chúng.

Vi khuẩn có lợi probiotic BioZ có thể sử dụng TAN làm nguồn nitơ để tổng hợp protein tế bào trong quá trình sinh trưởng. Quá trình sinh hóa này được gọi là chu trình cacbon, nơi các vi khuẩn sử dụng cacbon, nitơ và phốtpho (C:N:P) để tổng hợp cấu trúc tế bào cho sự phát triển của chúng. Ba khoáng chất này rất cần thiết cho sự tăng trưởng tối ưu của tôm khi ở tỷ lệ tối ưu 100:20:1. Do phốtpho (P) có nhiều trong hầu hết các hệ thống nuôi trồng thủy sản, điều quan trọng là duy trì nguồn cung cấp cacbon (C) ổn định để tận dụng nitơ (TAN). Khi các ao nuôi tôm có hàm lượng cacbon thấp, vi khuẩn bị hạn chế khả năng hấp thu nitơ (TAN) của chúng. Do đó, một nguồn cung cấp cacbon ổn định là cần thiết để loại bỏ cả NH3 và NO2. Khuyến nghị người nuôi nên bổ sung nguồn cacbon bên ngoài (mật đường, xi-rô ngô, cám gạo, dextrose, đường cát, bột mì, vv…) vào hệ sinh thái ao trên cơ sở ổn định đảm bảo đủ khắp đáy ao và liên tục sục khí.

Việc loại bỏ NH3 và NO2 xảy ra trong nhiều giai đoạn. Protein trong thức ăn được phân hủy thành NH4+/ NH3. NH4+/ NH3 được chuyển thành NO2 và sau đó là NO3. Để các bước này diễn ra hiệu quả, cần duy trì nguồn cung cấp oxy hòa tan ổn định, đặc biệt là ở phía dưới đáy ao. Ngoài ra, điều quan trọng là phải đảm bảo rằng không có các khu vực tích tụ bùn ở đáy ao. Các vị trí tích tụ bùn này là các túi kỵ khí hoạt động dẫn đến sự gia tăng nồng độ nitrit (NO2). Sự gia tăng nồng độ NO2 là một cảnh báo sớm về sự phổ biến của túi kỵ khí cần nhanh chóng khắc phục và cần tỷ lệ C:N được duy trì là 15:1 với sục khí tốt.

Các ao nuôi tôm nền đáy đất tự nhiên có khả năng tích lũy bùn hữu cơ từ vụ nuôi trước đó. Đây là lý do tại sao việc cải tạo đáy ao là rất quan trọng trong việc duy trì nền đáy ao sạch sẽ. Người nuôi có thể sử dụng kết hợp men vi sinh AquaVive và NutraPro để làm sạch môi trường nước và bùn đáy hữu cơ bao gồm các chất thải ẩn trong lớp bùn đáy mà không cần làm khô và loại bỏ cơ học.

Như vậy, việc sử dụng men vi sinh BioZ (AquaVive và NutraPro) để cải thiện an toàn sinh học và tính bền vững của môi trường hệ sinh thái ao là rất quan trọng và cần thiết trong quy trình nuôi tôm công nghiệp.

BioAqua.vn

Nguồn: BioZ Technologies LLC, USA​

 

 

  • BioZ Technologies sử dụng Nhóm vi sinh vật An toàn Sinh học Loại l trong danh mục của Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (US FDA) được đánh giá thông thường là an toàn (GRAS) gồm các dòng vi sinh vật thuần khiết, an toàn và tự nhiên.
  • Trong 1 gram men vi sinh AquaVive và NutraPro chứa 3 tỷ lợi khuẩn hợp phối để duy trì điều kiện ao nuôi thuận lợi cho sự tăng trưởng, năng suất và bền vững.
  • Sản phẩm men vi sinh AquaVive và NutraPro của công ty BioZ Technologies được sản xuất và đóng gói tại Mỹ.

 

Chia sẻ

Quay lại