Lợi ích của việc ương dưỡng tôm

Quay lại

Lợi ích của việc ương dưỡng tôm

: 2772

Trong sáu năm qua, các hệ thống ương dưỡng tôm giống đã tiến triển nhanh chóng ở Mỹ Latin. Hiện nay, thời gian nuôi trong các trại ương dưỡng lâu hơn, sinh khối lớn hơn, các hệ thống chuyển đổi và hệ thống kiểm soát nước (không thay nước) đều tốt hơn. Thức ăn và chế phẩm sinh học/probiotic cũng đã và đang được cải thiện. Mục tiêu là để sản xuất postlarvae/tôm giống mạnh khỏe hơn thích nghi được với môi trường ao nuôi. Cách làm này đưa đến tỉ lệ sống tốt hơn trong những ngày nuôi đầu tiên và giảm thiểu phơi nhiễm với các vật mang mầm bệnh.

Kể từ khi tác nhân gây bệnh EMS/AHPND là Vibrio, các hệ thống ương dưỡng cho phép nông dân tập trung vào việc kiểm soát vi khuẩn Vibrio trong một khu vực nhỏ hơn và cản trở quá trình phơi nhiễm với tác nhân gây bệnh. Tại Mexico và châu Á, đây là một trong những chiến lược được áp dụng để giảm thiểu hội chứng tôm chết sớm (EMS).

Chi phí lớn nhất trong nuôi tôm là trong suốt quá trình nuôi tăng trưởng. Thả tôm giống/postlarvae lớn hơn (PLS), cụ thể PL 45, thay vì PL 12, làm giảm thời gian của giai đoạn nuôi tăng trưởng từ 20-30 ngày. Một vụ ngắn hơn có nghĩa là chi phí thức ăn và năng lượng thấp hơn. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) có thể giảm được 10-30%.

Sự tiến triển của hệ thống ương dưỡng ở Mexico

Virút đốm trắng, cùng với những hạn chế do thời tiết địa phương (Mexico có tình hình thời tiết khắc nghiệt, mùa hè nóng và mùa đông lạnh) đã buộc nông dân phải sửa đổi hệ thống ương dưỡng.

Các bể hình tròn công suất 50 tấn vào năm 2008 đã tiến lên thành hệ thống raceway 100 tấn vào năm 2009 và sau đó lên tới 500 tấn năm 2011. Hiện tại, ngay cả các bể hình chữ nhật lớn hơn với công suất từ 800 đến 1.000 tấn, khép kín trong nhà kính đã được sử dụng. Chế phẩm sinh học/probiotic được sử dụng để kiểm soát chất lượng nước. Các cách thức sử dụng các chế phẩm sinh học khác nhau được điều chỉnh tùy thuộc vào điều kiện sinh khối, chất lượng nước và sức khỏe động vật:

• Đối với các chất hữu cơ, 3 ppm mỗi 72 giờ

• Đối với các độc tố, 2-5 ppm mỗi 48 giờ

• Đối với các tác nhân gây bệnh trong nước, 2 ppm mỗi 72 giờ

Thức ăn tôm giống chất lượng cao có hạt mịn ít hơn là những loại thức ăn được ưa chuộng nhất. Các nhà quản lý trại ương dưỡng không theo một bảng cho ăn cố định. Thông thường, họ cho chế độ ăn năng lượng cao có ít nhất 45% protein thô cách nhau khoảng 2 giờ. Lượng thức ăn được điều chỉnh tùy thuộc vào sàng ăn, chất lượng nước và sức tăng trưởng của động vật.

Từ năm 2012, máy bơm đã được sử dụng để chuyển tôm giống từ các bể ương dưỡng đến ao nuôi tăng trưởng, giảm tỷ lệ chết trong quá trình chuyển tôm chỉ còn 3-5%. Quá trình chuyển tôm đã được tinh chỉnh để động vật không bị ra khỏi nước trong hơn 30-60 giây. Năm 2013, sử dụng máy bơm, khoảng cách chuyển tôm đã tăng lên đến 3 km và khối lượng lên tới 15 kg tôm giống/phút. Quan trọng là thực hiện chuyển tôm vào buổi sáng, buổi chiều muộn hoặc vào ban đêm. Nên kiểm tra tình trạng tôm trước mỗi lần chuyển.

Một phát triển gần đây là việc giảm mật độ thả giống trong các hệ thống raceway để đạt được tôm giống/postlarvae lớn hơn và tỷ lệ sống cao hơn, đạt được sinh khối 6,9 kg/m3.

Kinh nghiệm của châu Á về các trại ương dưỡng

Trong năm 2013-2014, các kỹ thuật ương dưỡng được áp dụng ở Mexico đã được chuyển giao thành công cho một trang trại nuôi tôm của Malaysia. Postlarvae/tôm giống được thả trong hệ thống raceway 25-30 ngày để sản xuất tôm cỡ 1-1,5 g, sau đó được thả vào ao nuôi tăng trưởng ở mật độ 70-80 con/m2. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) ở hệ thống raceway là 1,0-1,5 tùy thuộc vào thời gian nuôi. Trong các ao nuôi tăng trưởng, tôm đạt 17-18 gram và FCR là 1,3. Tỉ lệ sống trong các ao nuôi tăng trưởng là 90-95%.

Ở Thái Lan, đã có kết quả khác nhau. Thành công ở giai đoạn ương dưỡng, nhưng do tình trạng của động vật trong lúc chuyển đổi, giai đoạn nuôi tăng trưởng cho kết quả kém. Các ý tưởng khác đã được đưa ra như thả trong lồng không chạm đáy trong vòng 30 ngày nuôi đầu tiên. Theo như báo cáo, cách này đã tránh được bùng phát EMS. Một lựa chọn khác là chia 20-30% diện tích ao bằng lưới, thả tôm giống vào chỗ đó, và sau đó thả chúng ra toàn bộ ao sau 20 đến 30 ngày.

Ở Việt Nam, việc áp dụng các hệ thống ương dưỡng đã bị cản trở do thiếu vốn đầu tư, công nghệ và an toàn sinh học kém. Một thành công đã được báo cáo ở miền Trung Việt Nam, nhưng tình trạng sức khỏe tôm yếu trong quá trình chuyển đổi làm cho mức tăng trưởng hạn chế trong ao. Tình trạng sức khỏe yếu là do thức ăn không tốt và chất lượng nước kém trong ương dưỡng.

Nông dân ở châu Á nên đầu tư vào công nghệ mới được phát triển ở châu Mỹ Latinh và tinh chỉnh nó cho phù hợp với châu Á.

BioAqua.vn

Nguồn: Tạp chí NTTS.  Editor Greg Lutz (email editorinchief@dpinternationalinc.com).  Nursery Phase in Shrimp Farming: Benefits Beyond EMS.  Fernando Garcia Abad (email fernando.garcla@epicorebionetworks.com).  Volume 41, Number 4, Page 6, August/September 2015.

Chia sẻ

Quay lại