Mười bước dễ dàng để nuôi tôm hoặc cá rô phi công nghệ biofloc

Quay lại

Mười bước dễ dàng để nuôi tôm hoặc cá rô phi công nghệ biofloc

: 1016

Dựa trên các cuộc phỏng vấn với một số nhà phát triển và áp dụng biofloc sớm nhất gồm có Djames Lim từ Singapore (CEO của Lim Shrimp Organisation), Khoo Eng Wah từ Malaysia (giám đốc điều hành của Trung tâm nuôi trồng thủy sản Sepang Ngày nay), Barkah Tri Basuki từ Indonesia (Người sáng lập của Banglele Indonesia) và Tiến sĩ Nyan Taw từ Myanmar (chuyên gia tư vấn cấp cao về nuôi tôm), The Fish Site trình bày một hướng dẫn gồm 10 bước thực tế để giúp người nuôi kết hợp các nguyên tắc biofloc trong hoạt động nuôi tôm hoặc cá rô phi.

Các yếu tố tốn kém nhất trong nuôi trồng thủy sản là thức ăn chất lượng cao, các hệ thống lọc và đầu tư cần thiết cho không gian rộng rãi để phát triển các loài nuôi mục tiêu. Với chi phí sản xuất liên tục tăng, nông dân và các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm những cách khác nhau để sản xuất nhiều thủy hải sản hơn mà sử dụng ít tài nguyên hơn.

Ban đầu được hình thành như một cách tự nhiên để làm sạch nước, các hệ thống biofloc ngày càng trở nên phổ biến như một phương tiện làm sạch nước nuôi tôm và cá với chi phí thấp đồng thời cung cấp thêm nguồn thức ăn. Trên hết, thực hiện các nguyên tắc biofloc đòi hỏi đầu tư ít – vì chỉ cần ánh sáng mặt trời, nguồn carbohydrate và nhiều sục khí.

Các hệ thống biofloc dựa vào quang hợp để chuyển đổi thức ăn thừa, phân và các chất dinh dưỡng dư thừa thành thức ăn. Trong khi phân hủy amoniac và nitrat độc hại, cả hai loài vi khuẩn sản xuất sơ cấp tự dưỡng và dị dưỡng đều sinh sôi để thu hút sinh vật chủ của các sinh vật không ngừng phát triển – bao gồm tảo cát, nấm, tảo, động vật nguyên sinh và nhiều loại sinh vật phù du. Bị ràng buộc một cách lỏng lẻo bởi chất nhầy của vi khuẩn, hầu hết các khối nổi này hoặc các floc đều cực nhò khi nhìn bằng kính hiển vi. Các tập hợp lớn hơn có thể được nhìn thấy bằng mắt người, giống như bùn màu nâu hoặc màu xanh lá cây. Mặc dù không quá hấp dẫn đối với con người, nhưng đây là một bữa ăn hảo hạng cho cá và tôm.

Bằng cách tái chế protein, các hệ thống biofloc khắc phục những quan ngại liên quan đến mật độ thả giống cao và khả năng lọc thấp – như chất lượng nước bị suy giảm và tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Trong các hệ thống nuôi truyền thống, chỉ khoảng 25% hàm lượng protein của thức ăn thực sự được sử dụng bởi các loài nuôi. Bằng cách chuyển đổi amonium thành protein vi khuẩn mà có thể được tiêu thụ bởi các nhóm ăn lọc (ăn chất lọc lơ lửng và các hạt thức ăn trong nước), các hệ thống biofloc có thể làm tăng gấp đôi con số này giúp tiết kiệm cho nông dân số tiền lớn. Các hệ thống biofloc làm giảm sự lây lan và tác động của các mầm bệnh, đồng thời cải thiện sức khỏe của cá nhờ chất lượng nước tốt hơn và sự sẵn có thêm thức ăn. Do đó, các hệ thống biofloc có thể giúp chúng ta một cách tự nhiên nuôi nhiều thủy hải sản bền vững hơn, đồng thời cải thiện lợi nhuận của trang trại.

Nhiều người tham gia ngành tôm hàng đầu châu Á đang chuyển sang biofloc. Như Djames Lim, Giám đốc điều hành của một trong những trang trại hoạt động nuôi tôm lớn nhất trong khu vực giải thích: “Không có biofloc thì công ty chúng tôi sẽ không thể đạt được tốc độ tăng trưởng đầy tham vọng mà không ảnh hưởng đến các nguyên tắc bảo vệ môi trường và bảo vệ động vật. Hệ thống này là một lợi thế cho tất cả các bên liên quan.”

Điều quan trọng phải hiểu các hệ thống biofloc và các nguyên tắc cơ bản của chúng là các khái niệm nuôi trồng thủy sản tương đối mới và phức tạp. Vẫn còn nhiều điều chưa biết và còn nhiều điều cần được khám phá. Chúng tôi khuyến khích các độc giả tiến hành nghiên cứu sâu hơn và chia sẻ kinh nghiệm của mình để tối đa hóa những cơ hội thành công cho mọi người.

Bước 1: Thiết lập bể hoặc ao

Mặc dù có thể chuyển đổi các ao nuôi cá truyền thống mà không có lót bạt sang hệ thống biofloc, nhưng đó là một nhiệm vụ đầy thách thức. Vi khuẩn, khoáng chất và các kim loại nặng tự nhiên có trong đất dễ dàng ảnh hưởng đến các thông số của nước ao và có thể ảnh hưởng đến các quá trình tự nhiên diễn ra trong hệ thống biofloc.

Theo Khoo Eng Wah, Giám đốc điều hành của Trung tâm Nuôi trồng Thủy sản Sepang Ngày nay (STAC) ở Malaysia giải thích: “Đối với những người mới áp dụng biofloc, tốt nhất là bắt đầu với các ao lót bạt, ao bê tông hoặc bể trong nhà mà ở đó đất không ảnh hưởng đến các thông số nước hoặc các quá trình biofloc.” Ở hầu hết các nước nhiệt đới, hệ thống trong nhà có lợi thế lớn. “Khi có mưa lớn, độ kiềm và pH dễ bị ảnh hưởng ở các hệ thống ngoài trời. Ao có mái che là những lựa chọn tốt.”

Hình 2: Tôm thẻ là một loài rất phù hợp với các hệ thống biofloc
© Khoo Eng Wah/Trung tâm Nuôi trồng Thủy sản Sepang Ngày nay

Các bể trong nhà hoặc mương raceway cũng có thể được sử dụng, nhưng không có ánh sáng mặt trời tự nhiên, tảo sẽ không phát triển đầy đủ hoặc hoàn toàn không phát triển – tạo ra một hệ thống biofloc chỉ dựa vào vi khuẩn. Loại này gọi là “hệ thống biofloc nâu” có màu nâu và được thảo luận sâu hơn ở phần sau (Bước 7).

Nếu sử dụng các ao lớn, bạn nên đặt ống thoát nước dưới đáy để thỉnh thoảng rút bỏ bùn tụ quá mức. Điều này đặc biệt quan trọng khi bổ sung carbohydrate một cách thường xuyên sẽ làm cho bùn nhiều hơn đáng kể trong ao (Bước 4). Lựa chọn thứ hai là sử dụng các bể phản ứng biofloc để tăng tốc chuyển đổi bùn thành biofloc.

Bước 2: Sục khí

Sau khi bạn đã làm xong ao hoặc bể thì bắt đầu làm hệ thống sục khí. Tất cả các hệ thống biofloc yêu cầu chuyển động liên tục để duy trì cả mức oxy cao và giữ cho chất rắn không lắng xuống. Các khu vực không có chuyển động sẽ nhanh chóng mất oxy và biến thành các khu vực kỵ khí giải phóng một lượng lớn amoniac và metan.

Để ngăn chặn vấn đề này, mỗi hệ thống ao, bể hoặc mương cần bố trí các thiết bị sục khí đúng thiết kế. Ao thường sử dụng thiết bị sục khí bánh guồng. Các hệ thống biofloc cần tới 6 mg oxy/L/giờ và khuyến nghị sử dụng sục khí ít nhất 30 mã lực trên mỗi ha. Nhưng, tùy thuộc vào mức độ thâm canh và năng suất của hệ thống, con số này có thể lên tới 200 mã lực mỗi ha.

Các sục khí bánh guồng nên được lắp đặt một cách có chiến lược để tạo ra dòng chảy trong ao và cũng cần thường xuyên di chuyển một số sục khí để đảm bảo các hạt rắn không lắng ở các khu vực có ít hoặc không có dòng chảy.

Bước 3: Nuôi cấy vi khuẩn có lợi trước khi đưa vào ao

Khuyến nghị nuôi cấy vi khuẩn trước khi cho vào nước nuôi để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống biofloc và ổn định ao nhanh hơn bằng cách sử dụng các sản phẩm thương mại có sẵn hoặc tự làm. Một công thức tự chế đơn giản để nhanh chóng tạo ra probiotic và prebiotic sử dụng cám mì và Red Cap 48 (một sản phẩm địa phương ở Đông Nam Á) trộn trong một cái thùng kín và để lên men trong 48 giờ, sau đó cho vào ao.

Bước 4: Chọn loài nuôi và các mật độ thả

Dù hầu hết các loài sẽ được hưởng lợi từ chất lượng nước cải thiện nhờ hệ thống biofloc, bạn muốn chọn loài được hưởng lợi nhiều nhất vì chúng có khả năng ăn và tiêu hóa biofloc. Đây là các loài ăn lọc toàn bộ hoặc một phần. Cả tôm và cá rô phi đều là những ứng cử viên xuất sắc, khi chúng nuốt biofloc, nhờ đó cải thiện đáng kể hiệu suất cho ăn và FCR của trang trại.

Tại STAC ở Malaysia, ngay cả những loài không ăn lọc như cá rô ngọc và cá mú khác nhau đã được nuôi trong các hệ thống biofloc trong nhà có kết quả rất khả quan. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải tránh các loài không thích vùng nước âm u với hàm lượng chất rắn cao, như một số loài cá da trơn và cá chẽm. Những loài này đơn giản là không thích hợp.

Nhờ có sục khí mạnh và khả năng tự lọc của nước nuôi, các mật độ thả cao có thể được xem xét và người ta thường thả với mật độ 150 – 250 PL/m2. Mật độ thả an toàn cho cá rô phi sẽ là 200 – 300/m3. Nhiều nông dân cố gắng thả mật độ dày hơn nhưng điều này làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh, làm tổn hại cả sức khỏe và phúc lợi của động vật.

Bước 5: Cân bằng nguồn carbon đầu vào

Để ngăn chặn đỉnh amoniac (bắt nguồn chủ yếu từ nitơ trong thức ăn) khi bắt đầu chu kỳ nuôi, chúng tôi khuyên bạn nên thúc đẩy tăng trưởng và phát triển biofloc trong ao hoặc hệ thống mương bằng cách đảm bảo sẵn có đủ carbohydrate. Cacbon trong các loại carbohydrate này giúp vi khuẩn dị dưỡng sinh sôi và tổng hợp amoniac, do đó duy trì chất lượng nước.

Hình 4: Chỉ số màu cộng đồng vi khuẩn (MCCI) cho thấy sự chuyển đổi từ hệ thống do tảo chi phối sang hệ thống do vi khuẩn chi phối – © Trung tâm Nuôi trồng Thủy sản Khu vực miền Nam (ban đầu từ Brune và Kirk)

Chúng tôi khuyên bạn chỉ nên chọn các nguồn carbon và hỗn hợp thức ăn có tỷ lệ carbon-nitơ (C/N) trên 10 vì tạo điều kiện cho các loài vi khuẩn dị dưỡng này phát triển. Vì hầu hết thức ăn cho cá và tôm có tỷ lệ C/N là 9:1 hoặc 10:1, nên cần có thêm đầu vào để nâng tỷ lệ này lên trong khoảng từ 12:1 đến 15:1. Bất kỳ nguyên liệu nào chứa đường đơn giản và phân hủy nhanh chóng có thể được sử dụng, chẳng hạn như mật đường, sắn, cỏ khô, mía hoặc tinh bột. Một giải pháp khác là giảm hàm lượng protein trong thức ăn được sử dụng.

Để ngăn chặn đỉnh amoniac ở các giai đoạn cuối của quá trình sản xuất, nên lặp lại bước này, đặc biệt là khi áp dụng các mật độ thả cao kết hợp với một lượng lớn thức ăn nhân tạo.

Kiểm soát bước này là một trong những bước khó nhất để thực hiện thành công các nguyên tắc biofloc.

Bước 6: Tăng trưởng biofloc

Với nhiều sục khí, ánh sáng tự nhiên (trong hầu hết các hệ thống) và nguồn carbon có sẵn, số lượng biofloc sẽ bắt đầu nhân lên nhanh chóng. Tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm nhiệt độ nước, các chất dinh dưỡng sẵn có và ánh sáng mặt trời, cộng với số lượng biofloc làm giống tại thời điểm bắt đầu vận hành, số lượng floc sẽ tăng từ gần 0 lên khoảng 4 – 5 đơn vị trên một mililit trong một vài tuần. Cuối cùng, mật độ đáng kinh ngạc lên tới 10 tỷ vi khuẩn trên mỗi cm khối có thể được dự kiến, như Nyan Taw giải thích, “Một sự đa dạng đáng kinh ngạc của hơn 2.000 loài,” tất cả chúng đều làm việc chăm chỉ để giảm thiểu hàm lượng amoniac trong cột nước và duy trì chất lượng nước tốt.

Theo dõi sự tăng trưởng của các floc này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng bình hình nón để thu thập một số mẫu nước ở độ sâu từ 15cm đến 25cm, tốt nhất là vào cuối buổi sáng. Các hạt rắn nên được để lắng trong 20 phút. Chúng sẽ dính vào thành bình hình nón, giúp bạn dễ dàng đếm chúng. Đối với các quy mô vận hành lớn hơn, máy đếm vi khuẩn Mil Kin cũng là một công cụ tiện dụng.

Bước 7: Theo dõi và kiểm soát sự phát triển của biofloc

Từ thời điểm này, các mẫu nước phải được lấy thường xuyên để theo dõi nước ao và xác định hoạt động của hai dạng biofloc và mật độ tương ứng của chúng. Nói một cách đơn giản, biofloc ngoài trời bao gồm tảo lục và vi khuẩn nâu: tảo chủ yếu sử dụng ánh sáng mặt trời để sinh trưởng, trong khi vi khuẩn chủ yếu tiêu thụ thức ăn thừa, các phụ phẩm của chúng và các chất thải liên quan.

Do ban đầu tảo có xu hướng nhân lên nhanh hơn, nghĩa là ao lúc đầu trông có màu xanh, chuyển sang màu nâu trong những tuần tiếp theo khi các khuẩn lạc bắt đầu chiếm ưu thế. Quần thể đàn tăng và lượng cho ăn tăng, điểm bùng phát sẽ đạt đến trong khi nước sẽ vẫn có màu nâu. Như Nyan Taw giải thích: Màu nâu này đạt được nhanh hơn vì cá rô phi được cho ăn nhiều thức ăn hơn, trong khi tôm mất nhiều thời gian hơn một chút. Sự thay đổi màu này được minh họa rõ trong chỉ số màu Hình 4.

Hình 5: Sự phát triển của một hệ thống biofloc liên quan đến mức độ thức ăn

Bước 8: Theo dõi và kiểm soát các thông số nước và cơ sở hạ tầng trang trại liên quan

Một khi hệ thống biofloc chuyển sang màu nâu, phải tăng sục khí lên đáng kể để duy trì tốc độ hô hấp cao. Như được hiển thị trong Hình 5, tốc độ hô hấp ở giai đoạn này có thể đạt tới 6mg mỗi lít mỗi giờ, đòi hỏi năng lượng gấp 6 lần mỗi ha so với khi bắt đầu vận hành.

Bất kỳ sự cố mất điện nào trong giai đoạn này đều có thể nhanh chóng dẫn đến thất vụ do thiếu oxy và bởi vì trong môi trường oxy thấp thì nhiều vi khuẩn dị dưỡng thực sự bắt đầu sản sinh amoniac. Điều quan trọng là hệ thống sục khí phải luôn luôn hoạt động.

Điều này có nghĩa là bảo trì và giám sát tốt các thiết bị sục khí cùng với hệ thống điện cung cấp năng lượng để chạy hệ thống này. Do mạng lưới điện ở nhiều nước châu Á không quá đáng tin cậy, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi có nhiều trang trại hoạt động vì thế nông dân nên đầu tư vào các giải pháp ngoài lưới điện. Một số nhà sản xuất thiết bị sục khí bánh guồng cung cấp các loại máy chạy bằng năng lượng mặt trời. Tuy nhiên, nhữngloại này tốn kém hơn và không phải lúc nào cũng hữu hiệu. Một máy phát điện diesel lớn, bao gồm một bộ máy phát điện dự phòng thứ hai, có thể là lựa chọn tốt nhất cho hầu hết các hoạt động của trang trại lớn.

Theo dõi thường xuyên các thông số chất lượng nước, đặc biệt là nồng độ oxy hòa tan và amoniac sẽ cho bạn biết hệ thống hoạt động tốt hay là không hoặc cần sục khí thêm nữa.

Hình 6: Đo các thông số chất lượng nước © Khoo Eng Wah/Trung tâm Nuôi trồng Thủy sản Sepang Ngày nay

Bước 9: Theo dõi và kiểm soát hoạt động của động vật thả nuôi

Bên cạnh việc duy trì chất lượng nước với chi phí thấp hơn và không cần trao đổi nước, mục tiêu thứ hai của hệ thống biofloc là cải thiện tốc độ tăng trưởng và hiệu quả cho ăn, từ đó cải thiện lợi nhuận và tính bền vững của hoạt động nuôi trồng.

Để kiểm tra trang trại đang hoạt động như thế nào, cần theo dõi thường xuyên hiệu suất thả nuôi, đòi hỏi tính toán và ghi lại tốc độ tăng trưởng, ngoại hình tổng quan, FCR và tỷ lệ sống. Người ta đã ước tính cứ mỗi đơn vị tăng trưởng của vật nuôi từ thức ăn thì có 0,25 đến 0,5 đơn vị tăng trưởng có thể đến từ biofloc trong hệ thống. Do đó, bạn sẽ nhận thấy một bước nhảy vọt khi so sánh các hồ sơ trang trại hiện tại với các hoạt động trang trại không biofloc truyền thống trước đây.

Bước 10: Thu hoạch và vệ sinh

Đối với tôm, mức thu hoạch có thể dự kiến an toàn từ 20 – 25 tấn mỗi ha. Nếu tuân thủ tất cả các bước thì một nông dân có thể mong đợi tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống tăng lên, nhờ đó giảm chi phí đầu tư và cải thiện lợi nhuận.

Việc làm sạch và chuẩn bị ao hoặc mương raceway là rất quan trọng sau thời gian thu hoạch nhưng thường bị lãng quên và bị đánh giá thấp. Mặc dù việc tái sử dụng nước nuôi có vẻ đáng quan tâm vì mất nhiều nỗ lực để xây dựng quần thể vi sinh vật, nhưng điều này không được khuyến khích. Các mầm bệnh có thể đã tích tụ trong khi nuôi và có thể gây ra rủi ro an toàn sinh học nghiêm trọng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng theo thời gian, kim loại nặng có thể tích tụ trong nước nuôi, có thể tích tụ trong động vật nuôi khiến cho không phù hợp với tiêu dùng của con người. Chúng tôi khuyên bạn nên làm sạch kỹ càng ao trước khi bắt đầu vụ nuôi tiếp theo có hiệu quả.

Đối với những người quan tâm đến đào tạo thực hành thực tế, Khoo Eng Wah, giám đốc điều hành của Trung tâm Nuôi trồng Thủy sản Sepang Ngày nay (STAC) tổ chức các khóa đào tạo khác nhau, bao gồm một khóa học biofloc. STAC được thành lập vào năm 1997 và thực hiện các khóa đào tạo nuôi trồng thủy sản cho các nhà đầu tư mới hoặc người mới bắt đầu vào ngành nuôi trồng thủy sản. Họ cũng cung cấp dịch vụ tư vấn nuôi trồng thủy sản và đào tạo nuôi trồng thủy sản trong nhà cho các công ty đầu tư nuôi trồng thủy sản.

BioAqua.vn

Nguồn: https://thefishsite.com/articles/ten-easy-steps-towards-biofloc-production-of-shrimp-or-tilapia

 

Chia sẻ

Quay lại