Nghiên cứu sử dụng tảo lục Ulva lactuca trong chế độ ăn của tôm thẻ chân trắng

Quay lại

Nghiên cứu sử dụng tảo lục Ulva lactuca trong chế độ ăn của tôm thẻ chân trắng

: 2039

Tóm tắt: Các tác giả tiến hành nghiên cứu liệu tảo lục U. lactuca tươi hàng tuần thu hoạch từ một hệ thống nuôi trồng thủy sản kết hợp đa dạng dinh dưỡng trong đất liền có thể được sử dụng làm dinh dưỡng bổ sung hoặc thay thế một phần thức ăn viên trong nuôi tôm thẻ Litopenaeus vannamei hay không. Nghiên cứu kết luận rằng cho ăn bổ sung tảo lục U. lactuca không nâng cao tăng trưởng, tỉ lệ sống hay hệ số chuyển đổi thức ăn. Thay thế một phần thức ăn viên bằng tảo lục U. lactuca dẫn đến giảm tăng trưởng, nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống hay hệ số chuyển đổi thức ăn.

 

Tôm ăn tảo lục Ulva sẵn có, nhưng đã tỏ ra thích ăn thức ăn viên hơn trong suốt thực nghiệm.

Các nhà nghiên cứu tại Viện Hải dương học Harbor Branch thuộc Đại học Atlantic Florida (HBOI-FAU) đã thiết kế một loại hình hệ thống nuôi trồng thủy sản độc đáo kết hợp đa dạng dinh dưỡng trên đất liền sử dụng một hệ thống lọc trung tâm để kiểm soát đưa khối lượng các dòng thải đã chọn lọc xử lý trước đến mỗi bộ phận trong hệ thống. Các bộ phận được cho ăn trong hệ thống này bao gồm cá nục Florida pompano, cá chim vây vàng Trachinotus carolinus và tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei. Tảo lớn Ulva lactuca được sử dụng để quản lý chất thải nitơ sinh ra trong hệ thống. Cá nục được nuôi trong hệ thống nước trong và tôm được nuôi trong một hệ thống dị dưỡng được duy trì bằng cách cung cấp biofloc từ một lò phản ứng sinh học bên ngoài.

Trong quá trình thực nghiệm với hệ thống này đã nhận thấy tôm nuôi ăn các mảnh nhỏ U. lactuca có trong chất rắn do hệ thống sinh ra cũng như trên biofloc được tạo ra.

Tảo lớn được coi là một nguồn cung cấp vitamin, khoáng chất và protein tốt cũng như đã từng được sử dụng làm chất bổ sung chế độ ăn trong nuôi cá chẽm, cá lóc và tôm. Nuôi ghép rong biển đã được ghi nhận nhằm thúc đẩy tăng trưởng và giảm hệ số chuyển đổi thức ăn bổ sung thêm vào các chất dinh dưỡng đồng hóa từ nước nuôi giúp cải thiện chất lượng nước. Ngoài việc làm chức năng đồng hóa, U. lactuca có giá trị kinh tế tiềm năng là một nguồn thức ăn.

Năng suất U. lactuca được nuôi trồng trong hệ thống HBOI-FAU là 20 g trọng lượng khô/m2/ngày. Phân tích thành phần U. lactuca đã xác định có 34% protein tính trên cơ sở trọng lượng khô.

Do hàm lượng protein cao, cũng như quan sát tôm trong hệ thống nhận thấy nó có thể làm cho chế độ ăn thức ăn viên ngon hơn, một nghiên cứu đã được tiến hành kiểm tra tiềm năng sử dụng U. lactuca tươi được thu hoạch từ hệ thống làm chất bổ sung hoặc thay thế một phần chế độ thức ăn viên, từ đó làm cho hệ thống tăng thêm giá trị kinh tế bằng cách giảm chi phí thức ăn.

Thiết kế thực nghiệm

Nghiên cứu được thực hiện ở một hệ thống nuôi trồng thủy sản nước trong tuần hoàn ở nhà kính có kiểm soát khí hậu tại HBOIFAU, Fort Pierce, Florida, Mỹ. Hệ thống kết hợp một bộ lọc cát, hạt lọc sinh học và khử trùng bằng tia cực tím có 20 bể bằng sợi thủy tinh tròn dung tích 80-L.

Bốn nhóm xử lý trong thực nghiệm bao gồm đối chứng cho ăn 100% thức ăn viên (100: 0), thức ăn viên bổ sung 25% tảo (100: 25), thức ăn viên có thay thế 25% tảo (75:25) và thức ăn viên có thay thế 50 % tảo (50:50). Các chế độ thức ăn viên có 45% protein và 11,5% chất béo. Tảo Ulva có 34% protein và 2% chất béo tính trên cơ sở trọng lượng khô.

Mỗi bể thả 30 tôm ấu niên có trọng lượng 1,17 ± 0,12 g làm theo thiết kế khối ngẫu nhiên có 6 lần lập lại mỗi cách. Tôm được cho ăn chế độ thức ăn viên lúc 9 giờ sáng và 4 giờ chiều, cho ăn tảo U. lactuca hàng ngày lúc 11 giờ. Nhiệt độ, độ mặn và oxy hòa tan được duy trì ở mức tương ứng là 25,0 – 27,7 °C, 30,8 – 33,8 g/L và 85,7 – 105,9%. Tổng nồng độ amoni nitơ, nitrit và độ kiềm trung bình ở mức tương ứng là 0,084 mg/L, 0,093 mg/L và 185,200 mg/L.

20% quần thể trong mỗi bể được cân ngẫu nhiên hàng tuần. Vào cuối thực nghiệm, tất cả tôm được thu hoạch và các bể được cân theo mẻ để xác định các chỉ tiêu nuôi cuối cùng về tỉ lệ sống, mức tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn (Bảng 1, Hình 1).

Bảng 1. Năng suất trung bình của tôm cho ăn một chế độ thức ăn viên có bổ sung hoặc thay thế một phần bằng tảo Ulva lactuca tươi.

Xử lý

 

Tỉ lệ sống

(%)

 

Trọng lượng

ban đầu (g)

 

Trọng lượng

cuối cùng (g)

 

Hệ số

chuyển đổi

thức ăn

100:0

100:25

75:25

50:50

82

81

81

81

1,23 ± 0,16

1,10 ± 0,07

1,19 ± 0,08

1,16 ± 0,11

5,14 ± 0,46a

5,19 ± 0,46a

4,44 ± 0,40b

3,73 ± 0,62b

2,69 ± 0,96

2,50 ± 0,30

2,44 ± 0,75

2,26 ± 0,24

 

Hình 1. Mức tăng trọng tôm thẻ L. vannamei hàng tuần ở các nhóm xử lý cho ăn chế độ thức ăn viên bổ sung hoặc thay thế một phần bằng tảo Ulva lactuca tươi.

 

Nuôi trồng tảo Ulva ngoài trời tại HBOI-FAU.

Kết quả

Không có khác biệt đáng kể về tỷ lệ sống từ 81 đến 82% giữa 4 nhóm xử lý. Tuy nhiên, sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng đã thấy rõ vào tuần ba (Hình 1). Không có khác biệt đáng kể về tốc độ tăng trưởng giữa nhóm đối chứng và các nhóm bổ sung tảo Ulva, nhưng tốc độ tăng trưởng thấp hơn đáng kể ở cả hai nhóm có chế độ ăn được thay thế bằng tảo Ulva. Thống kê không có khác biệt về hệ số chuyển đổi thức ăn giữa các nhóm xử lý khác nhau dựa trên trọng lượng khô.

Các quan điểm

Nghiên cứu này cho thấy các mức thức ăn bổ sung U. lactuca tươi được sử dụng trong thực nghiệm này không làm tăng trưởng hoặc nâng cao tỉ lệ sống tôm thẻ L. vannamei so với tôm cho ăn chế độ thức ăn viên có hàm lượng protein cao. Thay thế một phần chế độ thức ăn viên bằng tảo U. lactuca tươi không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống, nhưng đã làm tốc độ tăng trưởng giảm, cho thấy loại tảo này về mặt dinh dưỡng không thay thế hoàn toàn thức ăn viên.

Ghi nhận thấy tôm ở nhóm xử lý 50:50 không ăn hết tất cả tảo được cho, trong khi tôm ở nhóm xử lý bổ sung 75:25 đã nhìn thấy ngưỡng của việc bổ sung tảo U. lactuca ở một điều kiện nuôi. Ngoài ra, tôm đang ăn tảo U. lactuca sẽ bỏ ăn ngay khi thức ăn viên được cho vào bể, cho thấy sự ưa thích chế độ thức ăn viên.

Dù kết quả thu được sẽ khác nhau đối với tôm cho ăn chế độ ăn có hàm lượng protein (chất đạm) thấp hơn hoặc đối với tôm cho ăn các loài tảo lớn khác thì đây là một lĩnh vực cần tiếp tục thăm dò.

BioAqua.vn

Nguồn: Susan Laramore, Ph.D., Bryan Gordon, Richard Baptiste, Paul Wills, Ph.D., Dennis Hanisak, Ph.D., Harbor Branch Oceanographic, Institute at Florida Atlantic University, 5600 U.S. 1 North Fort Pierce, Florida 34946 USA – Theo Advocate Global Aquaculture – Tháng 11-12/2014

Chia sẻ

Quay lại