Nước độ mặn thấp kiểm soát Vibrio trong nuôi tôm giống/hậu ấu trùng

Quay lại

Nước độ mặn thấp kiểm soát Vibrio trong nuôi tôm giống/hậu ấu trùng

: 3397

Tóm tắt: Trong một cuộc khảo sát về nồng độ vi khuẩn Vibrio ở hậu ấu trùng tôm thẻ chân trắng ở hai trang trại trong đất liền, hậu ấu trùng từ trại giống được cho thích nghi trong nước giảm độ mặn từ 30 và 5 ppt xuống 2 ppt tại các trang trại. Một trang trại thả hậu ấu trùng trong ao ương dưỡng và trang trại khác thả trực tiếp vào ao nuôi tăng trưởng. Nồng độ vi khuẩn Vibrio giảm sau khi cho thích nghi và đã tiệt trừ khỏi hậu ấu trùng trong những ngày nuôi đầu tiên.

 

Các trang trại trong đất liền ở phía nam Ecuador có thể sản xuất tôm lên đến 10 tấn/ha sử dụng nước ngầm có độ mặn 2 đến 3 ppt.

Nuôi tôm độ mặn thấp ở phía nam Ecuador được áp dụng tại các trang trại trong đất liền sử dụng nước ngầm được bơm vào các ao từ 0,5 đến 1,0 ha có lót bạt và nhà kính làm bằng nhựa. Sục khí bánh guồng liên tục hoạt động trong suốt vụ nuôi có thể cho sản lượng 7-10 tấn/ha trong vòng 90 đến 120 ngày.

Các trại sản xuất giống cung cấp hậu ấu trùng cho các trang trại cho tôm thích nghi trong nước có độ mặn từ 30 giảm xuống 5 ppt trước khi chuyển đến các trang trại (Bảng 1).

Bảng 1. Các trại giống cung cấp hậu ấu trùng tôm tới các trang trại trong đất liền có độ mặn thấp ở Ecuador sử dụng cách thức thích nghi sau:

Độ mặn

Phạm vi thời gian thích nghi

20-30 ppt

15-20 ppt

10-15 ppt

5-10 ppt

giảm 2 ppt mỗi 20 phút

giảm 2 ppt mỗi 30 phút

giảm 1 ppt mỗi 30 phút

giảm 1 ppt mỗi giờ

Khi đã chuyển đến trang trại, hậu ấu trùng được tiếp tục cho thích nghi với nước có độ mặn 2 ppt ở các bể bên cạnh ao để thả trực tiếp hoặc trong ao ương dưỡng trước khi cuối cùng được thả trong ao nuôi.

Theo dõi, kết quả

Trong nghiên cứu của các tác giả, đợt phân tích vi khuẩn đầu tiên gồm 3 mẫu lấy từ 2 bể trại giống chứa nước ở độ mặn 30 ppt sử dụng cung cấp hậu ấu trùng cho mỗi trang trại.

Mẫu ngâm của hậu ấu trùng PL6 được nuôi cấy trong môi trường thạch và ghi nhận số lượng khuẩn lạc Vibrio trong mỗi gram (CFU/g) cả khuẩn lạc vàng (sucrose âm tính) hoặc khuẩn lạc xanh (sucrose dương tính).

Đợt phân tích vi khuẩn thứ 2 này được thực hiện khi đưa hậu ấu trùng PL12 đến mỗi trang trại trong nước có độ mặn 5 ppt trước khi thả. Đợt phân tích cuối cùng được thực hiện hoặc trong ao ương dưỡng hoặc trong ao nuôi tăng trưởng trong những ngày nuôi đầu tiên. Khuẩn lạc Vibrio xanh sau đó được xác định là V. parahaemolyticus.

Hậu ấu trùng từ trại giống khi thả trực tiếp có mật độ khuẩn lạc vàng trung bình là 442.400 CFU/g và xanh là 29.933 CFU/g (Hình 1), trong khi hậu ấu trùng ở giai đoạn ương dưỡng có mật độ khuẩn lạc vàng là 390.000 CFU/g và xanh là 20.933 CFU/g (Hình 2).

 

Hình 1. Nồng độ trung bình của các loài vi khuẩn Vibrio trong hậu ấu trùng tôm từ trại giống cho đến những ngày nuôi đầu tiên ở trang trại khi thả giống trực tiếp.

 

Hình 2. Nồng độ trung bình của các loài vi khuẩn Vibrio trong hậu ấu trùng tôm từ trại giống cho đến những ngày đầu tiên ở trong ao ương dưỡng.

Khi đưa đến các trang trại, mức trung bình của 3 mẫu hậu ấu trùng PL12 lấy ngẫu nhiên từ 3 túi vận chuyển có nước ở độ mặn 5 ppt cho thấy ở trang trại thả giống trực tiếp, số lượng vi khuẩn Vibrio vàng giảm xuống 1.236 CFU/g và số lượng vi khuẩn Vibrio xanh xuống dưới 100 CFU/g. Ở trang trại khác, số lượng khuẩn lạc vàng trung bình giảm xuống còn 3.000 CFU/g và xanh còn 102 CFU/g.

Nuôi tăng trưởng sớm

Cuối cùng, tiến hành theo dõi các loài vi khuẩn Vibrio trong hậu ấu trùng vào những ngày nuôi đầu tiên, hoặc trong các ao ương dưỡng ở các trang trại nuôi 2 pha, hoặc trong ao nuôi tăng trưởng ở các trang trại thả giống trực tiếp. Trong cả 2 trường hợp, khuẩn lạc xanh V. parahaemolyticus bị tiệt trừ khỏi hậu ấu trùng trong 5 ngày ở ao ương dưỡng và trong vòng 10 ngày ở ao nuôi tăng trưởng. Sự khác biệt kết quả giữa 2 trang trại này có thể là do mức oxy tối thiểu trong ao ương (5,0 mg/L) cao hơn trong ao nuôi tăng trưởng (4,0 mg/L).

Tiếp tục theo dõi các trang trại trong giai đoạn nuôi tăng trưởng đến độ mặn cuối cùng là 3 ppt khi thu hoạch thì nhận thấy V. parahaemolyticus không khi nào xuất hiện trở lại trong các mẫu lấy từ các mô máu và gan tụy của tôm, hoặc thậm chí từ các mẫu nước.

Các quan điểm

Vibrios được biết đến là vi khuẩn ưa mặn, nghĩa là tăng trưởng tốt trong môi trường thủy sinh có độ mặn cao và sự tăng trưởng của chúng bị ức chế khi nước có độ mặn thấp. Tuy nhiên, khi hậu ấu trùng tôm bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh Vibrio ở nồng độ rất cao trong các trại sản xuất giống, bệnh có thể trở nên không thể kiểm soát được.

Đây là cơ hội tốt để biết mức độ nhiễm xác định số phận hậu ấu trùng tại các trang trại, giống như trường hợp của hội chứng tôm chết sớm (EMS) gây ra bởi một chủng vi khuẩn gây bệnh Vibrio parahaemolyticus.

Thậm chí nếu hậu trùng đã nhiễm được nuôi trong nước ngọt, tỷ lệ chết có thể xảy ra trong những ngày nuôi đầu tiên.

 

Hậu ấu trùng tôm hết sạch Vibrio parahaemolyticus ở ao ương có độ mặn thấp trong một vài ngày sau khi thả.

BioAqua.vn

Nguồn: Dr. Carlos A. Ching, Aquaculture Manager, Ing. Juan Portal, Technical Assistance Manager, Nicovita – Vitapro S.A., Av. Argentina 4793, Ing. Alfredo Salinas, Production Manager, Orocam, Huaquillas, Ecuador – Theo Advocate Global Aquaculture – Tháng 11-12/2014

Chia sẻ

Quay lại