Nuôi tôm thẻ chân trắng ở Ấn Độ: Chuẩn bị cho tương lai tốt hơn

Quay lại

Nuôi tôm thẻ chân trắng ở Ấn Độ: Chuẩn bị cho tương lai tốt hơn

: 7091

Hiệp hội Chuyên gia Nuôi trồng Thủy sản (SAP) đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei vào nuôi ở Ấn Độ năm 2009. “Tuy nhiên, một số vấn đề gần đây đang đe dọa đến tính bền vững của ngành công nghiệp này. SAP nhận thấy cần phải can thiệp và thu hút sự chú ý của các bên liên quan chính trong ngành cũng như các cơ quan chức trách vào các vấn đề này ở Ấn Độ,” chủ tịch S Muthukaruppan cho biết. Hiệp hội tổ chức một phiên họp đặc biệt vào ngày 8/11/2014 tại Chennai.

SAP đã mời 4 diễn giả trình bày quan điểm về các mối đe dọa suốt chuỗi cung ứng: sản xuất tôm giống, tôm bố mẹ, nuôi trồng, thức ăn và cho ăn, chế biến và tiếp thị.

Hoạt động sản xuất tôm giống

Ravi Kumar Yellanki, công ty Vaisakhi Bio-Marine Pvt Ltd đã liệt kê một số vấn đề ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất giống. Hiệu suất sản lượng nauplii và hội chứng zoea là hai bế tắc trong lĩnh vực này.

Trong các hoạt động sản xuất giống, thả giống nhanh hơn và theo phương pháp mô-đun (phương pháp cải thiện hiệu suất ao, giúp cho người nuôi thả và thu hoạch liên tục) là các chìa khóa để vượt qua hội chứng zoea. Nên tránh sử dụng kháng sinh, vì không có tác dụng chữa khỏi bệnh cho ấu trùng. Liên quan đến thành thục tôm bố mẹ, vấn đề được nêu lên là sự thiếu chuyên môn và tôm bố mẹ ‘sao chép’. Vấn đề thứ 2 này được coi là ‘sát thủ’ chính của ngành và có thể tạo ra một xu hướng nguy hiểm, theo ý kiến của Ravi Kumar.

“Nguồn cung tôm bố mẹ hạn chế do phụ thuộc vào một hoặc hai nguồn. Các vấn đề khác là tốc độ tăng trưởng chậm, sai khác kích cỡ lớn, và tỉ lệ dễ mắc bệnh cao ở hậu ấu trùng tôm thẻ vannamei do sử dụng tôm bố mẹ lai cận huyết. Nhu cầu cấp thiết phải thành lập các trung tâm nhân giống thương phẩm ở Ấn Độ để sản xuất tôm thẻ chân trắng và tôm sú giống sạch bệnh (SPF) tại địa phương.

Ravi Kumar cũng lên tiếng kêu gọi các quan chức và cộng đồng khoa học xem xét các loài tôm bản địa thuần hóa như Penaeus indicus và Penaeus merguensis, và thực hiện lai giống chọn lọc nhằm sản xuất tôm bố mẹ sạch bệnh (SPF) của các loài này để sử dụng trong tương lai.

Các vấn đề sản xuất

S. Chandrasekar, Nuôi trồng Thủy sản Inve, Ấn Độ đã nhấn mạnh các vấn đề trong sản xuất và đặc biệt thảo luận về hội chứng tôm chết sớm (EMS) tại các nước như Thái Lan và Việt Nam.

Ông cho biết biểu hiện của hội chứng tôm chết liên tiếp (RMS) ở Ấn Độ là do sử dụng các đàn giống không sạch bệnh, điều kiện ao nuôi và chất lượng nước kém, cho ăn quá mức, không rút bỏ bùn, nhiệt độ cao, và điều kiện độ mặn cao trong số nhiều nguyên nhân khác. Hội chứng phân trắng và hội chứng trắng cơ cũng ảnh hưởng đến nuôi tôm.

Liên quan đến RMS, Chandrasekar cũng so sánh giữa nuôi tôm sú với tôm thẻ chân trắng và xu hướng sản xuất ở các vùng bờ biển phía đông so với phía tây của Ấn Độ. Một số khuyến nghị để sản xuất bền vững và thành công bao gồm cải thiện tôm giống bố mẹ và dinh dưỡng ấu trùng, các quy trình khử trùng tốt bằng cách sử dụng chất diệt khuẩn có chất lượng, chuẩn bị ao nuôi đầy đủ giữa các vụ, sử dụng các chế phẩm sinh học, các chất kích thích miễn dịch và quản lý bùn. Ngoài ra, ông còn thông tin chi tiết về nuôi tôm mật độ thấp ở Ecuador và sử dụng các hệ thống nuôi ghép/bán biofloc tại Indonesia.

Các thị trường xuất khẩu

Sản lượng tôm nuôi đã đóng góp 73% cho xuất khẩu tôm của Ấn Độ. Sự gia tăng sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng đã giúp đất nước xuất khẩu nhiều hơn trong hai năm qua. Mỹ là thị trường tôm lớn thứ hai của Ấn Độ chiếm 25,7%.

Mỹ là một thị trường trưởng thành vốn dễ bị dao động và các thị trường EU vẫn chưa được khai thác đối với tôm còn đầu.

“Để đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu thủy sản 6 tỷ USD, một nỗ lực hợp nhất giữa tất cả các bên liên quan bao gồm cả các nhà hoạt động trong ngành giống, nông dân, nhà máy thức ăn, các nhà cung cấp đầu vào và các nhà chế biến là cần thiết”, ông S Santhana Krishnan, Chủ tịch Sáng lập SAP phân tích về các thị trường tôm.

“Ấn Độ có nhiều lợi thế hơn các nước xuất khẩu tôm khác, tính cả mức thuế chống bán phá giá là 2,49%. Ấn độ sẽ chiếm lợi thế lớn hơn tại thị trường Mỹ bởi vì nhiều quốc gia đang ít chú ý đến thị trường này.”

Santana cho biết các thị trường xuất khẩu thích cỡ tôm 25-30 con hơn do giá tốt, tuy nhiên nguồn cung lại theo mùa. “Tuy nhiên, cỡ tôm 40-50 con chiếm 50% xuất khẩu tôm từ Ấn Độ. Giá tôm nguyên liệu thay đổi theo mùa và giá giảm trong vụ thu hoạch chính (tháng 4 – 5), trong tháng 6 – 8, nông dân nỗ lực nuôi tới cỡ thu hoạch 30 con dẫn đến ít nguồn cung cỡ 40-50 con. Giá giảm và do đó sự thông hiểu và hợp tác giữa tất cả các bên liên quan là cần thiết trong các tình huống sản lượng lớn.”

Một câu hỏi phổ biến theo Santana là liệu việc mua tôm Ấn Độ của Trung Quốc có thể coi là tình hình tốt hay không.

“Trong ngắn hạn, thị trường này phù hợp hơn với các nhà chế biến nhỏ và mới gia nhập thị trường. Thị trường Trung Quốc đối với tôm Ấn Độ không bền vững bởi xuất khẩu sang Trung Quốc thường chuyển qua đường Việt Nam kể từ khi xuất khẩu trực tiếp thu mức thuế cao.

“Cuối cùng, truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm là vô cùng quan trọng. Nên liên tục cảnh giác đến việc từ chối do kháng sinh và chương trình giám sát dư lượng hiệu quả cực kỳ quan trọng”, Santana nói. Elias Sait, Tổng Thư ký Hiệp hội Xuất khẩu Thủy sản của Ấn Độ cũng đã phát biểu tại hội thảo về tình trạng lạm dụng kháng sinh và từ chối do kháng sinh.

Sẵn sàng cho bước tiếp theo

Tiến sĩ P Ravichandran, thư ký thành viên, Cục Nuôi trồng Thủy sản Ven biển (CAA) liệt kê ba điểm nổi bật để đưa ngành công nghiệp tiến lên và cần phải do SAP đảm nhiệm.

Thông tin về năng suất sinh sản kém và sản xuất giống của các đàn nhập khẩu ở hầu hết các trại giống có thể phản ánh sự thiếu kiến ​​thức kỹ thuật và năng lực kỹ thuật của nhân viên trại giống. SAP nên xem xét tiến hành đào tạo cho nhân viên đối với các trại sản xuất giống có năng lực hoạt động kém.

Nông dân không làm theo thực hành quản lý tốt nhất cần thiết (BMP), đặc biệt liên quan đến khâu chuẩn bị ao nuôi dẫn đến tỷ lệ chết cao như tình trạng tôm chết liên tiếp (RMS). Những đòi hỏi này cần phải được chỉnh sửa, tuy nhiên chỉ một mình cơ quan khuyến nông nhà nước (các Tổ chức Trung ương và Thủy sản Bang) không thể thay đổi suy nghĩ của nông dân. Vì nông dân chủ yếu dựa vào lời khuyên từ các kỹ thuật viên thức ăn chăn nuôi, chuyên gia tư vấn và các nhà hoạt động khác, nhóm thứ hai này có thể đóng một vai trò lớn hơn trong việc phổ biến thông tin.

Nhu cầu trước mắt là phải thành lập các trung tâm nhân giống tôm bố mẹ cũng như một chương trình lai giống bản địa với một trung tâm lai giống hạt nhân. Mối liên kết đối tác công-tư (PPP) đã được đề xuất. Mục đích là ít nhất trong khung thời gian 3-4 năm, ngành công nghiệp này sẽ có thể không cần nhập khẩu tôm bố mẹ hoặc postlarvae/tôm giống.

BioAqua.vn

Nguồn: Hiệp hội Chuyên gia Nuôi trồng Thủy sản, tóm tắt phiên họp kỹ thuật SAP – Tạp chí Aqua Culture Asia Pacific Tháng 1 – 2/2015.

Chia sẻ

Quay lại