Quá trình lột xác của tôm và các yếu tố ảnh hưởng đến tôm lột xác

Quay lại

Quá trình lột xác của tôm và các yếu tố ảnh hưởng đến tôm lột xác

: 2127

Điểm nứt ra được định trước ở khớp lưng giữa ngực và bụng – Ảnh: aquariumbreeder

Quá trình lột xác của tôm

Trong vòng đời, tôm phải lột xác nhiều lần để tăng trưởng. Cơ thể tôm có 2 phần: phần đầu và ngực gắn liền (dưới giáp đầu – ngực) và phần bụng. Vỏ cơ thể làm nhiệm vụ che chở và chỗ bám cho hệ cơ phát triển có tác dụng như bộ xương.

Vỏ tôm chứa (1 – 14%) sắc tố, (30 – 40%) protein, (30 – 50%) canxi cacbonat và (20 – 30%) chitin và carotenoid (một dạng sắc tố hữu cơ) astaxanthin (sắc tố đỏ). Chitin là một loại polysaccharide tự nhiên và là thành phần chính của bộ xương ở động vật giáp xác, tôm và côn trùng (Gbenebor và đtg, 2017).

Postmolt – Sau khi lột xác

Postmolt là giai đoạn sau khi tôm thoát khỏi lớp vỏ cũ. Đây là thời kỳ khi lớp vỏ mở rộng hơn do thể tích máu được tăng lên từ dòng nước chảy vào. Dòng nước chảy qua biểu bì, mang và ruột. Sau vài giờ hoặc vài ngày (tùy thuộc vào tổng thời gian của chu kỳ lột xác), lớp vỏ mới cứng lên và duy trì được độ cứng (Chang, 1992).

Ngay sau khi tôm lột xác, chỉ có lớp biểu bì ngoài và lớp biểu bì trung gian xuất hiện. Trong vòng vài giờ, biểu bì bắt đầu bài tiết ra lớp biểu bì trong. Hầu hết lớp biểu bì ngoài phải lấy vật chất được dự trữ ở trong biểu bì, vì tôm không được cho ăn tới khi tôm bước vào thời kỳ giữa các lần lột xác. Sự bài tiết này tiếp tục cho đến khi tôm vào thời kỳ giữa các lần lột xác là khi ba lớp biểu bì được hình thành đầy đủ (Dall và đtg, 1990).

Intermolt – Thời kỳ giữa các lần lột xác

Trong thời kỳ giữa các lần lột xác, lớp vỏ trở nên cứng hơn nhiều do quá trình lắng đọng khoáng chất và protein. Lớp vỏ tôm tương đối mỏng và mềm hơn so với cua và tôm hùm (Chang, 1992). Thể tích cũng như trọng lượng của cả con tôm sẽ tăng 3 – 4% trong thời kỳ giữa các lần lột xác. Sự tăng lên này có thể là do sự mở rộng giữa các đốt nối mỏng của bụng và củng cố cho khái niệm rằng sự tăng trưởng của tôm he Penaeid là một quá trình liên tục hơn so với các loài giáp xác 10 chân vỏ cứng khác lột xác tương đối không thường xuyên (Dall và đtg, 1990).

Premolt (proecdysis) – Trước khi lột xác

Giai đoạn trước khi lột xác xảy ra ngay trước khi thoát khỏi lớp vỏ cũ và có đặc điểm là lớp vỏ cũ tách khỏi lớp biểu bì bên dưới. Lớp vỏ cũ được tái hấp thu một phần và dự trữ năng lượng được huy động từ tuyến ruột giữa. Giai đoạn này bắt đầu với sự gia tăng nồng độ hormone lột xác trong máu (Chang, 1992).

Dấu hiệu đầu tiên cho thấy tôm đang bước vào giai đoạn này là tách lớp biểu bì khỏi lớp biểu bì cũ. Sau đó lớp biểu bì bắt đầu tăng kích cỡ và cấu trúc, các tế bào dường như có chức năng dự trữ, tích tụ vào trong. Khi tôm trải qua giai đoạn này, lớp biểu bì bắt đầu tiết ra lớp biểu bì ngoài và lớp biểu bì trung gian mới.

Việc cho ăn bắt đầu giảm và hoàn toàn chấm dứt sau khi kết thúc giai đoạn này. Do đó, cần có sẵn các nguồn dự trữ để tổng hợp biểu bì và trong giai đoạn ngừng cho ăn. Vật chất để tổng hợp biểu bì có từ hai nguồn: dự trữ tích lũy do cho ăn và tái hấp thu từ lớp biểu bì cũ (Dall và đtg, 1990).

Thực tế là tôm bắt đầu ăn ít hơn đáng kể và càng ít khi gần tới thời điểm lột xác. Trong thời gian này, khoảng 20 – 25% tổng lượng canxi trong cơ thể sẽ được hấp thụ từ lớp vỏ cũ, cùng với các khoáng chất quan trọng khác.

Ecdysis – Lột xác

Giai đoạn này chỉ kéo dài vài phút, lớp vỏ cũ bắt đầu mở ở khớp lưng giữa ngực và bụng của các loài giáp xác và kết thúc khi con vật thoát ra khỏi lớp vỏ đó (Chang, 1992).

Chú thích: epicuticle: biểu bì ngoài, exocuticle: biểu bì trung gian, endocuticle: biểu bì trong, epidermis: biểu bì

Bởi vì việc hấp thụ nước xác định kích cỡ cho đến lần lột xác tiếp theo, đây là một quá trình sinh lý đơn thuần quan trọng nhất vào cuối giai đoạn trước khi lột xác và trong khi lột xác. Các loài giáp xác khác hấp thụ phần lớn nước bằng cách uống, nhưng quá trình này chưa được nghiên cứu với tôm Penaeidae. Phỏng đoán là có sự hấp thụ nước vào cuối giai đoạn trước khi lột xác, nhưng có vẻ như bị giới hạn trong vài giờ của giai đoạn lột xác, vì phần đầu ngực chỉ phồng lên ngay lập tức trước khi lột xác và lớp biểu bì cứng lại đáng kể trong vài giờ sau đó (Dall và đtg, 1990).

Nguồn: http://www.aquaculture.ugent.be/Education/coursematerial/

 

 

Động vật giáp xác sinh trưởng bằng cách thay vỏ giáp cứng của chúng bằng vỏ giáp mới lớn hơn được hình thành bên dưới lớp cũ. Quá trình này được gọi là quá trình lột xác hoặc lột lớp biểu bì bên ngoài. Dựa trên những thay đổi về hình thái, sinh lý và biểu bì, Drach (1939) đã chia chu kỳ lột xác thành bốn giai đoạn cơ bản được xác định là postmolt (sau khi lột xác), intermolt (giữa các lần lột xác), premolt (trước khi lột xác) và molt (lột xác). Bốn giai đoạn này được chia thành 5 giai đoạn chính và nhiều giai đoạn nhỏ. Các giai đoạn A, B, C (C1 đến C3) thể hiện giai đoạn sau khi lột xác. Giai đoạn A được đặc tả là vỏ giáp mềm ngay sau khi lột xác và giai đoạn B là khi vỏ giáp bắt đầu cứng lại. Giai đoạn đầu C (giai đoạn từ C1 đến C3) là khi vỏ giáp trở nên cứng hơn với sự hình thành của ba lớp biểu bì ở giai đoạn C2 và một lớp màng ở giai đoạn C3. Giai đoạn C4 thể hiện vỏ giáp cứng của giai đoạn giữa các lần lột xác với ba lớp biểu bì được định hình rõ ràng và lớp màng. Giai đoạn D (D0 đến D3) thể hiện cho giai đoạn trước khi lột xác khi đó quá trình hình thành vỏ giáp mới bên dưới vỏ giáp cứng đang thay đổi. Giai đoạn E được xác định là lột xác.

Nguồn: GROWTH INCREMENT AND MOLT FREQUENCY OF THE AMERICAN LOBSTER (HOMARUS AMERICANUS) IN THE SOUTHWESTERN GULF OF ST. LAWRENCE – academic.oup.com

 

Các yếu tố ảnh hưởng tôm lột xác

(Thủy sản Việt Nam) – Để tôm lột xác tốt, đồng đều, người nuôi cần phải quản lý tốt các yếu tố ảnh hưởng đến lột xác như dinh dưỡng, môi trường, dịch bệnh.

Yếu tố dinh dưỡng

Là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm tôm khó lột xác. Tôm thiếu dinh dưỡng sẽ không đủ chất để làm đầy vỏ nên vỏ không nứt ra để lột xác. Để tôm lột xác tốt cần cho tôm ăn đủ lượng thức ăn có hàm lượng đạm tổng số 32 – 45%.

Quản lý thức ăn: Cho tôm ăn đủ lượng thức ăn, trong tháng nuôi đầu cho ăn 8 – 10% tổng trọng lượng đàn tôm nuôi, các tháng tiếp theo cho ăn với lượng 5 – 7%. Điều chỉnh thức ăn trong ngày qua theo dõi lượng thức ăn thừa trên sàng ăn. Chuyển đổi thức ăn phù hợp theo giai đoạn phát triển, cỡ miệng tôm và nhu cầu dinh dưỡng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Khi chuyển đổi thức ăn, nên trộn lẫn 2 loại thức ăn cũ và mới cho ăn ít nhất 3 ngày.

Bổ sung khoáng chất: Cung cấp đầy đủ khoáng chất cần thiết giúp tôm lột xác tốt hơn, đặc biệt với tôm thẻ chân trắng. Chủ động bổ sung một số chất cần thiết như canxi, phospho, men kích thích, premix… để tôm có thể tái tạo lớp vỏ mới. Tôm nuôi thường lột xác vào ban đêm vì vậy nên bổ sung chất khoáng vào bữa ăn chiều cho tôm.

Môi trường nuôi

Môi trường nuôi không tốt ức chế các hoạt động, ảnh hưởng lớn đến quá trình lột xác của tôm. Vì vậy, cần chủ động điều tiết các thông số môi trường như: pH, độ kiềm, ôxy hòa tan, nhiệt độ… bằng cách thực hiện cải tạo, xử lý môi trường nuôi, gây màu nước cho tốt, nuôi đúng thời vụ; thả nuôi với mật độ vừa phải; định kỳ thay nước để đảm bảo cho tôm phát triển và lột xác nhanh.

− Ôxy hòa tan: Trong quá trình lột xác, nhu cầu ôxy của tôm cao gấp đôi nên khi thấy tôm có dấu hiệu chuẩn bị lột xác cần tăng cường quạt nước, sục khí để bổ sung hàm lượng ôxy hòa tan. Duy trì hàm lượng ôxy hòa tan trong khoảng 4 – 6 mg/l trong suốt quá trình lột xác của tôm.

− Độ mặn: Những ao nuôi tôm có độ mặn càng cao thì hàm lượng khoáng hòa tan có sẵn trong ao càng cao và ngược lại. Vì vậy, đối với những ao nuôi tôm có độ mặn thấp thì phải tăng cường việc bổ sung khoáng cho tôm. Tuy nhiên, nếu độ mặn tăng cao hơn 25‰, vỏ tôm thường dày và cứng, kéo dài thời gian lột xác của tôm. Vì vậy, cần nuôi tôm theo đúng thời vụ và vùng quy hoạch theo khuyến cáo.

− pH: Tôm lột xác khi pH đạt 7 – 8,5 và tốt nhất 7,5 – 8. Để ổn định pH cần duy trì độ trong của nước ao nuôi từ 30 – 40 cm. Nếu pH < 7,5 cần bón vôi (CaCO3, Dolomite) với liều 10 – 20 kg/1.000 m3 nước; pH > 8,5 thì sử dụng mật đường 3 kg/1.000 m3 kết hợp sử dụng men vi sinh theo hướng dẫn nhà sản xuất tạt xuống ao nuôi.

− Độ kiềm: Trong quá trình sinh trưởng, tôm cần rất nhiều khoáng nên cần duy trì độ kiềm từ 120 mg CaCO3/l trở lên bằng cách sử dụng vôi CaCO3 hoặc Dolomite và bổ sung khoáng 3 – 5 ngày/lần vào ban đêm giúp tôm nhanh cứng vỏ và lột xác đồng loạt.

Do một số bệnh

Tôm đặc biệt dễ bị tổn thương vì lớp vỏ của nó chỉ mới được hình thành trong giai đoạn sau khi lột xác. Hàng rào vật lý được hình thành bởi lớp biểu bì chưa đầy đủ chức năng, tôm cần huy động các nguồn dự trữ trong cơ thể để làm cứng và khoáng hóa lớp biểu bì yếu ớt này. Một số bệnh có khả năng xuất hiện vào thời điểm này, ví dụ như virus hội chứng đốm trắng (WSS) hoặc bị sốc thẩm thấu gây ra bởi lượng nước đi vào đáng kể ảnh hưởng mạnh đến môi trường bên trong cơ thể tôm, các chức năng tế bào của tôm bị phá vỡ bởi sự thay đổi lớn này.

Trong quá trình nuôi, tôm bị mắc một số bệnh như nấm, đóng rong, tôm còi… cũng khiến cho tôm chậm lột vỏ hoặc không thể lột vỏ. Phòng bệnh bằng cách quản lý chất lượng nước ao tốt, ổn định tảo trong ao và luôn đảm bảo nhu cầu ôxy cho tôm; thực hiện các biện pháp phòng bệnh tổng hợp khác. Nếu tỷ lệ nhiễm cao, cần đồng thời tiến hành các biện pháp điều trị cho từng bệnh cụ thể.

>> Đối với một số trường hợp có thể kích thích tôm lột xác bằng Saponin, Rotenone với liều lượng 3 – 5 g/m3 nước; hoặc sốc độ mặn, sốc nhiệt, thay nước mới cho ao nuôi cũng là biện pháp vừa cải thiện chất lượng nước vừa kích thích tôm lột xác.

Nhật Minh

 

Chia sẻ

Quay lại