Rabobank – Ngành nuôi tôm phục hồi sau EMS

Quay lại

Rabobank – Ngành nuôi tôm phục hồi sau EMS

: 4628

Hội chứng tôm chết sớm (EMS) – thuật ngữ gọi là hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) – là thách thức số 1 hiện nay đã và đang tàn phá các khu vực nuôi ở khắp Đông Nam Á và Trung Mỹ trong hai năm qua mà ngành nuôi tôm toàn cầu đang phải đương đầu.

Tuy nhiên, báo cáo mới có tựa “Một bình minh mới cho tôm” do Rabobank International biên soạn cho rằng dù vẫn còn nhiều ẩn số, nông dân nuôi tôm ở các vùng bị ảnh hưởng bởi EMS đang tìm cách để đối phó với dịch bệnh và giảm thiểu rủi ro. Ngoài ra, giá tốt đã khuyến khích các nhà sản xuất ở các vùng khác nhanh chóng mở rộng sản xuất, trong đó Ấn Độ, Ecuador và Indonesia phát triển nhanh nhất.

Trong báo cáo này, nhóm ngân hàng Hà Lan nêu rõ trong điều kiện nguồn cung tóp lại, tình trạng tồi tệ nhất của EMS dường như đã qua đi trong năm 2013 và suốt năm 2014, sản lượng tôm toàn cầu đã và đang phục hồi ở hầu hết các khu vực nuôi, “mặc dù không đồng đều.”

Việt Nam là khu vực chính đầu tiên bị tác động bởi EMS cho thấy dấu hiệu phục hồi. Rabobank ước tính sản lượng của Việt Nam đã giảm từ mức đỉnh 496.000 tấn trong năm 2011 xuống khoảng 280.000 tấn trong năm 2013, nhưng kỳ vọng hiện tại của năm 2014 cho thấy nguồn cung tôm đã tăng vừa phải trong năm 2014, có thể khoảng 7% so với cùng kỳ năm trước lên 300.000 tấn.

Một phần của sự phục hồi là do khả năng dựa vào các hệ thống nuôi thâm canh thấp, tuy nhiên cũng là nhờ việc mở rộng nuôi tôm đến các khu vực mới.

Nhu cầu không đổi

Mặc dù giá cao, nhu cầu tôm toàn cầu vẫn mạnh. Báo cáo của Rabobank cho biết một phần có thể là do Trung Quốc tự hình thành thêm một thị trường mới nổi về nhập khẩu tôm với nhiều nhà nhập khẩu tôm nuôi và tôm hoang dã không chỉ từ các nhà sản xuất châu Á, mà còn từ Nam Mỹ, châu Âu và Canada. Đồng thời, hai thị trường nhập khẩu tôm hàng đầu thế giới, Hoa Kỳ và EU, cũng cho thấy nhu cầu lớn trong suốt năm 2014.

Báo cáo cho biết “Những nhà thu mua Mỹ dường như dễ dàng chấp nhận giá cao, nhập khẩu tăng cả về khối lượng và giá trị. Chỉ có Nhật Bản – nước nhập khẩu tôm lớn thứ ba trên thế giới nhìn thấy nhu cầu yếu đi do kết hợp tỷ giá giảm, suy thoái kinh tế và biến động dân số tiêu cực lâu dài”.

Ấn Độ trở thành nhà cung cấp tôm số 1 sang Mỹ vào năm 2013, thay thế Thái Lan là nhà cung cấp hàng đầu truyền thống cho thị trường này. Miễn là không bị tấn công bởi bất kỳ vấn đề sinh học hay liên quan đến thời tiết nghiêm trọng nào, Rabobank dự kiến sản lượng tôm của nước này tăng 15% tương ứng 380.000 tấn trong năm nay. Hơn nữa, nếu thực hiện hết các kế hoạch mở rộng như dự kiến, sản lượng tôm của Ấn Độ có thể đạt 500.000 tấn vào năm 2015.

Sản xuất của Ecuador cũng đã phát triển nhanh chóng trong vòng hai năm qua nhờ vào tăng trưởng xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, EU và Trung Quốc.

Trong khi các khu vực láng giềng của Indonesia bị ảnh hưởng bởi EMS thì đất nước này vẫn sạch bệnh, giúp cho nguồn cung tăng và trở thành nước nuôi tôm lớn thứ 2 sau Trung Quốc.

Rabobank dự kiến sản lượng tôm của Ecuador đạt 320.000 tấn trong năm nay, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước và sản lượng của Indonesia tăng 8% tương ứng 385.000 tấn.

Theo nguồn cung toàn cầu, Rabobank ước tính sản lượng tôm nuôi có thể tăng thêm 240.000 tấn hoặc 10% thành 2,62 triệu tấn trong năm 2014 và nguồn cung tăng sẽ giúp kiểm soát được giá vào năm 2015.

Các rủi ro mới nổi

Trong khi nguồn cung tôm toàn cầu đang phục hồi, Rabobank cảnh báo “sự hồi phục hoàn toàn chưa được đảm bảo,” và các rủi ro vẫn có thể nhanh chóng đảo ngược tình thế. Các vấn đề quan trọng vẫn tồn tại ở Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Mexico.

“Ngoài các vấn đề EMS, các loại bệnh khác, vấn đề thời tiết hoặc thậm chí sự tạm dừng hồi phục nguồn cung do giá thấp hơn, mặc dù không chắc, nhưng mọi vấn đề vẫn có khả năng xảy ra.”

Về bùng phát dịch bệnh mới, có lẽ là mối quan tâm lớn nhất là Enterocytozoon hepatopenaei (EHP), một loài ký sinh trùng microsporidia khiến tăng trưởng chậm và giống như EMS tác động đến gan tụy. Ban đầu chỉ tác động đến tôm sú (Penaeus monodon) và bây giờ cũng tác động đến tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương (Penaeus vannamei).

EPS lần đầu tiên được phát hiện vào năm 2009 tại Thái Lan và kể từ đó được phát hiện ở cả Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng một số nhà khoa học cho rằng bệnh có thể lan rộng hơn nữa và không được chú ý do tập trung vào EMS.

Báo cáo của Rabobank cho biết “Vẫn còn quá sớm để coi EHP là mối đe dọa chính, nhưng nhắc lại EMS không phải là mối đe dọa duy nhất đối với an toàn sinh học. Có thể còn mầm bệnh khác, nhưng chưa biết rõ đang tác động đến ngành này và chúng tôi nhận thấy nuôi tôm là loại hình hoạt động có rủi ro cao.”

BioAqua.vn – SeafoodSource – Image source: www.flickr.com

Chia sẻ

Quay lại