Sử dụng hệ thống nuôi trồng thủy sản dị dưỡng trong giai đoạn ương dưỡng tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei

Quay lại

Sử dụng hệ thống nuôi trồng thủy sản dị dưỡng trong giai đoạn ương dưỡng tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei

: 1850

Hệ thống nuôi trồng thủy sản dị dưỡng là loại hình nuôi tôm thân thiện với môi trường có tiềm năng rất lớn để cải thiện sản lượng tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei. Biofloc được nuôi trong một hệ thống nuôi trồng thủy sản dị dưỡng có thể được sử dụng làm thức ăn thay thế cho tôm nhờ dinh dưỡng cao. Biofloc chứa protein vi khuẩn và polyhydroxybutyrate có khả năng thúc đẩy tăng trưởng. Biofloc cũng chứa vi khuẩn có peptidoglycan và lipopolysaccharide trên thành tế bào của chúng. Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu ảnh hưởng của hệ thống nuôi trồng thủy sản dị dưỡng đến nuôi tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei trong giai đoạn ương dưỡng.

Thử nghiệm được bố trí kiểu lô phụ ba lần lặp lại. Các cách thử nghiệm bao gồm hai yếu tố là các mật độ thả khác nhau và các hệ thống nuôi trồng thủy sản khác nhau. Các hệ thống nuôi trồng thủy sản là hệ thống nuôi trồng thủy sản tự dưỡng và dị dưỡng và trong đó các mật độ thả là 1.000, 1.500 và 2.000 PL/m3. Kết quả cho thấy không có sự tương tác đáng kể giữa mật độ và hệ thống nuôi trồng thủy sản với tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ hiệu suất protein và sản lượng tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei. Hệ thống nuôi trồng thủy sản dị dưỡng có thể làm tăng sản lượng tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei ở giai đoạn ương dưỡng. Tuy nhiên, hệ thống nuôi trồng thủy sản dị dưỡng không ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ hiệu suất protein của tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei. Trong khi đó, mật độ ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ sống và sản lượng tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei.

Việc phát triển nuôi tôm thâm canh đã và đang làm tăng tác động đến môi trường. Trong hệ thống nuôi trồng thủy sản tự dưỡng, chất thải nuôi tôm có thể là một vấn đề nghiêm trọng cả trong ao nuôi và trong môi trường. Chất thải ra như thức ăn thừa, phân tôm và các chất bài tiết chủ yếu là nitơ vô cơ (nitơ di động) dưới dạng amoniac và nitrit do hàm lượng protein cao trong thức ăn (30 – 40%). Nitơ trong thức ăn chỉ thu được lại có 25% vào trong tôm khi thu hoạch trong khi khoảng 75% được giải phóng vào hệ sinh thái ao, chủ yếu là tổng amoniac nitơ (TAN). Amoniac và nitrit trong ao nuôi độc hại đối với tôm. Nitơ vô cơ tích tụ trong ao, được kiểm soát bằng tảo và quá trình nitrat hóa. Nitơ vô cơ được chuyển hóa thành nitơ hữu cơ để tạo ra tế bào tảo.

Quá trình này bị giới hạn bởi tỷ lệ đồng hóa cacbon của tảo. Nitrat hóa là một quá trình chậm và cần một vài tuần để hoàn thành. Quan trọng là phát triển nuôi tôm không thay nước để giảm thiểu tác động của nước thải nuôi tôm. Nước thải trong nuôi tôm nên được tái chế trong ao trước khi thải ra môi trường xung quanh. Phương pháp này có thể được áp dụng để khắc phục vấn đề của hệ thống nuôi trồng thủy sản dị dưỡng (hệ thống biofloc).

Nguồn cacbon là đường, mật rỉ đường và tinh bột được đưa vào ao nuôi làm tăng tỷ lệ cacbon và nitơ (C:N) để cố định nitơ vô cơ và kích thích sự phát triển của vi khuẩn dị dưỡng để hình thành biofloc. Tôm nuôi trong hệ thống dị dưỡng có giá cao hơn so với hệ thống tự dưỡng là nhờ sản phẩm thân thiện với môi trường. Hệ thống dị dưỡng trong nuôi trồng thủy sản có tiềm năng rất lớn để tăng tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm. Hệ thống dị dưỡng có khả năng giảm chi phí nuôi từ phần ​​chi phí cho thức ăn vì biofloc có thể là thức ăn thay thế cho tôm có hàm lượng dinh dưỡng cao.

Biofloc bị chi phối bởi vi khuẩn chứa hàm lượng protein cao và có thể sản sinh ra polyhydroxybutyrate để dự trữ năng lượng và cacbon. Polyhydroxybutyrate có khả năng đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của động vật và ức chế vi khuẩn gây bệnh Vibrio ở đường ruột. Mục tiêu của thử nghiệm này là nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống dị dưỡng đến hiệu suất của giai đoạn ương dưỡng ấu trùng Litopenaeus vannamei.

Amoniac được sản sinh trong ao là sản phẩm chính cuối cùng của quá trình trao đổi chất do hàm lượng protein trong thức ăn cao và được bài tiết dưới dạng amoniac qua mang tôm. Áp dụng không thay nước trong hệ thống dị dưỡng để có thể kiểm soát TAN trong hệ thống nuôi trồng thủy sản.

Bằng cách bổ sung nguồn cacbon hữu cơ vào nước sẽ buộc vi khuẩn cố định bất kỳ nitơ vô cơ nào có trong ao. Nitơ vô cơ được tái chế trong ao nuôi đưa vào sinh khối protein của vi khuẩn cần cho sự phát triển và nhân lên của tế bào. Ở tỷ lệ C:N cao, vi khuẩn dị dưỡng sẽ đồng hóa nitơ amoni trực tiếp từ nước được chuyển hóa thành sinh khối tế bào. Việc bổ sung nguồn cacbon là phương pháp hiệu quả nhất trong việc giảm lượng nitơ vô cơ chủ yếu là TAN, cách này thường ổn định hơn và đáng tin cậy hơn là sự hấp thụ của tảo hoặc quá trình nitrat hóa.

Biofloc được hình thành trong hệ thống dị dưỡng có thể lợi cho tôm vì là thức ăn thay thế. Biofloc chứa protein vi khuẩn và polyhydroxybutyrate được sản xuất bởi vi khuẩn. Biofloc được tiêu thụ nhờ kích cỡ phù hợp cho tôm.

Polyhydroxybutyrate (PHB) là polymer chiếm ưu thế nhất và rất hữu ích trong nuôi trồng thủy sản. Ưu điểm của PHB là dự trữ năng lượng cho cá, tiêu hóa được trong ruột, tăng cường acid béo không bão hòa và thúc đẩy tăng trưởng cho cá. Biofloc cũng chứa methionine, lysine, các vitamin và khoáng chất, đặc biệt là phốtpho.

Tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei trong hệ thống dị dưỡng nhận thấy tăng lên hơn nhờ biofloc có chứa vi khuẩn. Vi khuẩn có khả năng sản xuất polyhydroxybutyrate.

Tỉ lệ sống và sản lượng tôm thẻ

AS: Hệ thống nuôi trồng thủy sản tự dưỡng – HS: Hệ thống nuôi trồng thủy sản dị dưỡng

Polyhydroxybutyrate sẽ giải phóng axit butyric 3-hydroxy (axit béo chuỗi ngắn) trong đường ruột như là chất ức chế vi khuẩn gây bệnh. Theo một số nghiên cứu, PHB có khả năng ức chế tác nhân gây bệnh ở đường ruột và kháng khuẩn chống lại Vibrio, E. coliSalmonella,  kiểm soát mầm bệnh Vibrio harveyi và để tăng tỷ lệ sống của ấu trùng Artemia franciscana. Far et al. đã nghiên cứu thấy Bacillus có thể làm tăng tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei và làm giảm mật độ Vibrio phát sáng trong nước ao. Vi khuẩn Bacillus cũng chứa peptydoglycan và lipopolysaccharide trên thành tế bào của chúng. Peptydoglycan và lipopolysaccharide là các chất kích thích miễn dịch có khả năng làm tăng khả năng miễn dịch không đặc hiệu của tôm. Các chất này ảnh hưởng đến hoạt động của prophenoloxidase và thực bào của các tế bào không hạt.

Hệ thống nuôi trồng thủy sản dị dưỡng có thể là một phương pháp thay thế để nuôi tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei trong ao. Hệ thống này thân thiện với môi trường, khắc phục được vấn đề trong nuôi tôm liên quan đến sự suy giảm chất lượng môi trường. Chất lượng nước ao nuôi được kiểm soát dẫn đến tăng trưởng tốt, tỷ lệ sống cao và tăng năng suất tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei trong giai đoạn ương dưỡng. Hệ thống nuôi trồng thủy sản dị dưỡng có khả năng tăng sản lượng tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei trong giai đoạn ương dưỡng. Tuy nhiên, hệ thống dị dưỡng không ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ hiệu suất protein của tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei. Mật độ thả ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và năng suất của tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei.

BioAqua.vn

Nguồn: International Journal of Waste Resources http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.911.5451&rep=rep1&type=pdf

 

 

Chia sẻ

Quay lại