Sử dụng mật rỉ đường để kiểm soát ammonia và pH ao nuôi tôm

Quay lại

Sử dụng mật rỉ đường để kiểm soát ammonia và pH ao nuôi tôm

: 9702

Các loài giáp xác chỉ đồng hóa được 20 – 30% lượng thức ăn đưa vào cơ thể, phần còn lại được thải ra trong môi trường nước ao nuôi. Khoảng 50% của tổng lượng nitrogen đưa vào ao nuôi (chủ yếu là thức ăn) cuối cùng sẽ chuyển thành ammonia. Các nghiên cứu ở Úc cho thấy khi đưa nguồn carbon vào ao nuôi sẽ gia tăng việc tiêu thụ các nguồn nitrogen vô cơ bởi vi khuẩn dị dưỡng theo cơ chế vi khuẩn dị dưỡng sẽ sử dụng carbon hữu cơ như một nguồn năng lượng cùng với nitrogen để tổng hợp ra protein cho việc kiến tạo tế bào mới của vi khuẩn vì vậy nếu chúng ta cung cấp nguồn carbon thì giúp vi khuẩn dị dưỡng đồng hóa tốt hơn các nguồn nitrogen sẵn có.

Hàm lượng carbon cần bổ sung bao nhiêu là vừa cho ao nuôi tôm?

Về mặt lý thuyết thì sinh khối vi khuẩn có tỉ lệ C:N là 5:1 vì vậy việc bổ sung carbon phải duy trì mức cân bằng tỉ lệ này. Tuy nhiên, giống như tôm và cá chỉ đồng hóa 1 phần thức ăn đưa vào cơ thể và vi khuẩn cũng vậy chỉ đồng hóa khoảng 40% lượng carbon đưa vào cơ thể, điều đó có nghĩa là chúng ta phải đưa vào lượng carbon để cân bằng được tỉ lệ C:N trong ao ở mức C:N = 12,5 : 1 (theo phép tính tương quan tỉ lệ thuận (5 x 100)/40 : 1 = 12,5 : 1).

Rỉ đường (molasses) là một nguồn carbon lý tưởng vì nó rẽ tiền và chứa lượng lớn carbon và dễ dàng sử dụng (hòa trộn thẳng với nước ao rồi tạt). Rỉ đường tốt dạng đậm đặc cũng chỉ chứa 40% carbon, như vậy để đảm bảo tỉ lệ 12,5 C: 1 N thì lượng rỉ đường phải cung cấp cho 1g nitrogen sinh học phải là 32g (cũng theo cách tính tỉ lệ thuận 100g rỉ đường chứa 40g carbon như vậy để cần 12,5g carbon phải cần 32g rỉ đường). Như vậy, để tính được lượng rỉ đường tương đối chính xác cần bón cho ao nuôi tôm thì người nuôi tôm cần đo lượng Ammonia tổng số và Nitrite (cùng với ước tính cho các Nitrogen sinh học còn lại – thông thường khoảng 50%) để có thể sử dụng lượng rỉ đường chính xác cho ao nuôi tôm.

Ngoài ra, nguồn rỉ đường cần phải chọn lựa loại rỉ đường tốt nếu không các tạp chất trong quá trình sản xuất đường và kết tủa rỉ đường sẽ làm vẫn đục ao nuôi tôm cũng như gây độc cho tôm nuôi (đặc biệt việc dùng các chất kết tủa như sút trong quá trình sản xuất đường).

Ao nuôi bón rỉ đường cần phải đảm bảo oxy hòa tan đủ cho các dòng vi khuẩn dị dưỡng hiếu khí vì quá trình đồng hóa carbon và nitrogen là quá trình hiếu khí, ngoài ra việc đảo trộn liên tục để đảm bảo các hạt hữu cơ lơ lửng trong cột nước giúp cho vi khuẩn bám vào các hạt hữu cơ này để thực hiện quá trình đồng hóa nguồn nitrogen sẵn có.

Kết quả nghiên cứu ở Úc cho thấy 65% nitrogen sinh học trong ao nuôi tôm được loại bỏ trong vòng 6 giờ sau khi bón rỉ đường và trong vòng 12 giờ toàn bộ nguồn ammonia gần như được loại bỏ.

Ngoài việc loại bỏ nguồn nitrogen, rỉ đường còn có tác dụng kiểm soát ổn định tốt pH ao nuôi. pH cao trong ao nuôi tôm thường do mật độ tảo trong ao quá dày nên khi tảo tiêu thụ carbon từ khí carbonic dioxide (CO2) cho quá trình quang hợp làm giảm tính axit của nước nên pH tăng cao. Khi bón rỉ đường sẽ gia tăng mật độ vi khuẩn dị dưỡng đưa đến thành lập cân bằng giữa quá trình quang hợp và quá trình dị dưỡng giúp cho vi khuẩn dị dưỡng cạnh tranh hiệu quả nguồn carbon với tảo nhờ vậy giữ mật độ tảo ổn định và không quá cao nên pH ổn định theo.

Liên hệ chi tiết: TS. Nguyễn Duy Hòa (moblie 01203 51 51 68).
Tác giả bài viết: TS. Nguyễn Duy Hòa dịch – Nguồn: Bản tin Con Tôm
Nguồn tin: TS. Dan Willett và Catriona Morrison.

 

———————————————————————————————————————————————————————-

Tác dụng của bột bã mía và mật rỉ đường trong ao nuôi tôm

Hiện nay, sử dụng giải pháp sinh học để ổn định chất lượng nước cũng như hạn chế dịch bệnh trong nuôi tôm đang ngày càng trở nên phổ biến. Trong đó, bột bã mía và mật rỉ đường được xem là nguyên nguyên liệu rẻ tiền nhưng lại có tác hiệu quả trong việc kiểm soát các yếu tố chất lượng nước.

Bột bã mía

Bã mía chiếm từ 20 – 30% trọng lượng mía đem ép. Tùy theo giống mía và thổ nhưỡng của nơi trồng mà thành phần hóa học trong mía sẽ thay đổi. Bã mía sau khi đem sấy khô, nghiền thành bột sẽ có các thành phần chính là: Cellulose (Xơ): 45 – 55%, Hemicellulose: 20 – 25%, Lignin: 18 – 24%, Tro: 1 – 4%, Sáp < 1%. Trong ao nuôi tôm, bột bã mía có tác dụng ổn định môi trường nước, giúp phát triển hệ vi sinh có lợi, cung cấp chất khoáng cho tảo, bổ sung các chất Fe, Zn cho tôm nuôi…

Theo “vua tôm” Võ Hồng Ngoãn thì quy trình sử dụng bột bã mía trong ao nuôi tôm như sau:

+ Sau khi cải tạo ao, sẽ dùng bột bã mía để gây màu nước với liều lượng 1kg/100m3 nước. Đối với ao thuần thì bón 5 ngày/1 lần, riêng ao đã bị chai nền đáy thì cần bón 2 ngày/1 lần.

+ Trong 2 tháng đầu, người nuôi không cần sử dụng chế phẩm sinh học hay khoáng bổ sung vào nước mà chỉ bón định kỳ bột bã mía 10kg/1000m3 nước ao. Lưu ý cần phải kiểm tra các yếu tố môi trường nước (mật độ vi khuẩn trong nước, pH, kiềm…) trước khi bón 1 ngày và sau khi bón 2 ngày. Điều này, sẽ giúp ước lượng chính xác liều lượng bột bã mía cần sử dụng.

+ Sau 2 tháng nuôi, tôm đã lớn, lượng chất thải cũng nhiều hơn. Do đó, ngoài việc sử dụng bột bã mía định kỳ, cần bổ sung thêm chế phẩm sinh học để môi trường nước luôn ổn định.

+ Trong quá trình nuôi, cần theo dõi kỹ màu nước, các yếu tố môi trường để có sự điều chỉnh hợp lý lượng bột bã mía cần bón.

Mật rỉ đường

Mật rỉ đường chiếm 3 – 5% trọng lượng mía đem ép, và có thành phần chính gồm: nước 20%, đường Saccaro 35%, đường khử 20%, tro 15%, protein 5%, sáp 1%, bột 4% và một số loại khoáng Fe, Al, Ca, Mg, P, K. Trong ao nuôi, tôm chỉ sử dụng 20 – 30% lượng đạm trong thức ăn, phần còn lại sẽ chuyển hóa loại đạm có độc là NH3 và NO2. Do đó, các nhà khoa học đã tận dụng cơ chế hoạt động của các loại vi khuẩn dị dưỡng là sử dụng carbon và nitơ để tổng hợp protein, nhằm loại bỏ hai chất độc hại này. Điểm mấu chốt ở đây là cần bổ sung nguồn carbon cho ao nuôi tôm. Mật rỉ đường chính là sự lựa chọn thích hợp cho giải pháp này.

Các thử nghiệm tại cơ quan nghiên cứu của Úc đã cho rằng bón mật rỉ đường với liều lượng 30 lít/ha là thích hợp nhất, vì sẽ rất an toàn, hữu ích giúp giảm chi phí và giảm được pH trong ao nuôi. Ngoài việc hòa với nước tạt đều khắp ao, mật rỉ đường còn được sử dụng để ủ với men vi sinh để xử lý nước trong nuôi trồng thủy sản: ủ mật đường với men vi sinh từ 3 – 6h sục khí liên tục và tạt xuống ao.

Kết luận: Mật rỉ đường và bột bã mía đều là những phế phẩm trong nông nghiệp, khi sử dụng trong thủy sản mang lại nhiều lợi ích như giúp giảm chi phí đầu tư, cho ra sản phẩm sạch, góp phần bảo vệ môi trường. Hy vọng, đây cũng sẽ là một giải pháp giúp ngành nuôi tôm công nghiệp bền vững hơn trong tương lai.

AN LÊ – Nguồn: TepBac.com

Chia sẻ

Quay lại