Tác động của mưa trong ao nuôi tôm

Quay lại

Tác động của mưa trong ao nuôi tôm

: 7476

Tác động chung khi mưa lớn quá nhiều trong ao nuôi tôm sẽ làm cho tôm bị chết ít hoặc nhiều, có thể do một số nguyên nhân, chẳng hạn như chứng thiếu oxy, lây nhiễm thứ cấp, tôm ăn thịt lẫn nhau, độc tính H2S và các vấn đề khác liên quan đến lột xác không hết. Tỷ lệ chết này thường xảy ra từ hai đến ba ngày sau những trận mưa.

Các tác động thường gặp

Gần như tảo luôn luôn bị giảm đột ngột, sụp tảo ngay sau hoặc trong thời gian mưa do nhiều yếu tố, yếu tố liên quan nhất là giảm pH (mưa có tính tương đối axit), giảm nồng độ khoáng chất và vi chất dinh dưỡng, tăng độ đục và cuối cùng là cường độ ánh sáng mặt trời giảm.

Sau đó, các quần thể vi khuẩn dị dưỡng có vai trò phân hủy chất hữu cơ sẽ tăng theo cấp số nhân do sự gia tăng sẵn có các chất dinh dưỡng từ các tế bào tảo chết lắng xuống đáy ao.

Tại thời điểm này, hiện tượng thường gặp là oxy hòa tan giảm liên tục tùy thuộc vào thời gian. Nhu cầu oxy sinh hóa cao là do vi khuẩn dị dưỡng và thiếu oxy sản sinh bởi sinh vật tự dưỡng vì chúng đã chết nên có thể đưa đến tình trạng thiếu oxy trong một thời gian rất ngắn nếu không có biện pháp khắc phục. Ngoài việc tiêu thụ oxy có sẵn, quá trình hô hấp do vi khuẩn sinh ra cacbon dioxide hòa tan trong nước và sẽ làm pH giảm nhiều hơn nữa.

Cuối cùng dẫn đến oxy hòa tan, pH và nhiệt độ thấp tạo ra một môi trường không thuận lợi cho nuôi tôm. Một lượng rất lớn chất hữu cơ trong ao là điều kiện lý tưởng cho vi khuẩn sinh sôi nảy nở với một chiến lược sinh sản nhanh và linh hoạt (chiến lược K) có tính kỵ khí tùy nghi và có thể đạt tới mức chi phối sinh khối đơn bào. Vibrios spp thường chiếm ưu thế trong các điều kiện này và nói chung tất cả các tác nhân gây bệnh tiềm tàng là phân giải protein hoặc tán huyết, hoặc cả hai.

Ở những điều kiện tương tự, thế năng oxy hóa/khử bùn có thể sẽ âm. Nói cách khác là tất cả các hợp chất sẽ được khử ở những điều kiện này, bao gồm cả sunfat. Trong điều kiện khử và pH thấp, hydrogen sulfide (H2S) cực kỳ độc hại đối với động vật giáp xác ở nồng độ mà thông thường sẽ không có vấn đề gì. Hydrogen sulfide độc do sự can thiệp của nó với chuỗi chuyển hóa của tiến trình oxy hóa cytochrome a3 trong quá trình hô hấp hiếu khí. Tác động này chỉ ở dạng H2S, vì ion HS không biểu hiện độc tính ở phạm vi bình thường trong nuôi tôm.

Nhiệt độ

Nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng sâu sắc đến tỷ lệ trao đổi chất, thông thường giảm mức tiêu thụ thức ăn khoảng 10% (trọng lượng khô) tương ứng với mỗi nhiệt độ nước thấp hơn ở 1 độ C. Bởi vì, mưa có thể làm giảm nhiệt độ nước ao từ 3 đến 5 độ C, tối thiểu có thể giảm 30% lượng tiêu thụ thức ăn.

Ảnh hưởng của sự phân tầng nước ao hoặc độ mặn thay đổi với các lớp nước lạnh sâu hơn này sẽ làm chậm quá trình làm ấm nước của mặt trời. Điều quan trọng là phải loại bỏ lớp nước lạnh và mới này hoặc ít nhất là đồng nhất nước ao thông qua một số can thiệp cơ học để giảm thiểu độ lớn và tốc độ thay đổi nhiệt độ.

Ngoài việc làm giảm sự thèm ăn, tình trạng phân tầng nhiệt này sẽ làm cho tôm di chuyển đến các khu vực ao có nhiệt độ và độ mặn cao hơn và có thể tránh xa âm thanh của mưa trên bề mặt ao. Hệ quả là sự gia tăng đáng kể mật độ tôm ở một số chỗ ao sâu hơn, nơi nồng độ ôxy hòa tan thấp nhất và nồng độ H2S cao nhất trong toàn bộ ao nuôi. Nếu lượng thức ăn tiếp tục cho như bình thường, quá trình phân hủy thức ăn thừa của vi khuẩn sẽ làm trầm trọng thêm khiến pH giảm và nhu cầu oxy sinh hóa BOD tăng do sự hô hấp hiếu khí của quần thể vi khuẩn dị dưỡng.

Tính axit (pH)

Lượng mưa có độ pH từ 6,5 đến 6,7 ở vùng ven biển Ecuador và các ao nuôi tôm thường trong khoảng từ 7,5 đến 8,5 và có thể giảm 0,3 đến 1,5 xảy ra trong mùa mưa. Sự phá hủy đột ngột của quần thể thực vật phù du trong ao rất thường xảy ra, mặc dù điều quan trọng cần lưu ý là độ mặn giảm không kéo theo cùng một vấn đề và thực tế, vi khuẩn lam chiếm ưu thế ở điều kiện độ mặn thấp.

Thực vật phù du chết nhiều sẽ cung cấp một lượng lớn các loại đường đơn cho hệ sinh thái ao khi đó sự phân giải tự động phá vỡ các thành tế bào và giải phóng tế bào chất vào trong nước. Trong vòng vài giờ, thường vi khuẩn dị dưỡng bắt đầu gia tăng theo cấp số mũ và đồng hóa các loại đường này. Tuy nhiên việc trao đổi chất này tiêu tốn gần hết oxy hòa tan có sẵn để hô hấp, trước khi chuyển sang dạng kỵ khí kém hiệu quả hơn nhiều. Hô hấp hiếu khí cũng tạo ra cacbon dioxide, sau đó thủy phân thành axit cacbonic, dẫn đến pH giảm nhiều hơn. Vì vậy, trong một thời gian ngắn pH biến động gây ra bởi những cơn mưa có thể dẫn đến một tình huống nghiêm trọng, khi đó pH sẽ tiếp tục giảm cho đến khi các quần thể thực vật phù du được phục hồi.

Oxy hòa tan

Mức oxy hòa tan là yếu tố quan trọng nhất trong nuôi tôm. Mức bão hòa của nó trong nước thấp hơn 25 lần so với không khí xung quanh ở cùng một nhiệt độ. Do đó, oxy hòa tan sẽ luôn là yếu tố hạn chế đầu tiên trong sản xuất hiếu khí của sinh khối thủy sinh.

Mặc dù nhiệt độ nước ao và độ mặn giảm là do mưa khiến tăng khả năng tối đa (điểm bão hòa) hấp thụ oxy của nước ao, nhưng không đủ quang hợp sẽ là yếu tố quyết định liên quan đến mức oxy hòa tan trong ao. Điều này, kết hợp với sự gia tăng nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) của vi khuẩn dị dưỡng và trong trường hợp không có bổ sung sục khí cơ khí thì mức oxy hòa tan có thể xuống giới hạn nguy hiểm (bằng hoặc nhỏ hơn 3 ppm) trong vòng chưa đầy nửa giờ. Mức oxy hòa tan thấp có thể làm tăng quá trình khử sunfat thành sulfite, cuối cùng dẫn đến sản sinh khí độc H2S.

Độ mặn và độ cứng

Cả độ mặn và độ cứng đều là các chức năng của nồng độ ion hòa tan, vì vậy nếu thể tích nước ao tăng thì nồng độ của tất cả các ion sẽ giảm.

Tỷ lệ tôm chết có liên quan trực tiếp do độ mặn trong giai đoạn nuôi tăng trưởng là không thường xuyên; tuy nhiên sẽ có tác động đáng kể tới mức cân bằng nội môi của động vật (tự động điều chỉnh nội bộ ở trạng thái ổn định). Giai đoạn sau khi tôm lột xác liên quan đến sự hấp thụ chủ động các ion canxi và magiê từ môi trường của chúng để làm cứng vỏ và quá trình này không thể tiếp diễn khi thiếu các ion này. Do đó, sẽ gia tăng đáng kể hiện tượng tôm ăn lẫn nhau và tỉ lệ chết liên quan đến lây nhiễm thứ phát do mầm bệnh cơ hội gây ra. Tỉ lệ tôm chết thường xuyên này thường không nhận ra được cho đến vài tuần sau khi mưa, khiến cho tình trạng phức tạp hơn.

Tác động của gió và sóng

Gió tác động lên bề mặt của một vùng nước tạo ra sóng do động năng chuyển từ không khí vào nước. Biên độ và bước sóng (các yếu tố xác định cường độ của năng lượng được truyền) phụ thuộc vào lực gió, thời gian gió thổi và khoảng cách mà gió tác động lên mặt nước. Do đó, các ao lớn bị gió mạnh trong thời gian dài sẽ có sóng lớn nhất.

Khi sóng tan thì chúng chuyển năng lượng vào các bờ ao. Kết quả gây xói mòn các sườn dốc bờ ao làm tăng độ đục của nước ao và làm giảm sự xâm nhập của ánh sáng mặt trời có thể góp phần gây chết thực vật phù du và mọi vấn đề liên quan đến việc không có được một quần thể vi tảo khỏe mạnh trong ao.

Tất cả các ao đất đều có một lớp vi khuẩn hiếu khí trên đáy bùn thường đóng vai trò như một hàng rào giữa lớp đất bên dưới thiếu oxy và nước tương đối giàu oxy. Hàng rào này xác định mặt phân giới giữa các phản ứng khử của đất và các phản ứng oxy hóa của cột nước. Lớp chất nền mỏng hiếu khí này có sức bền cơ học hạn chế và rất dễ bị tan rã do xáo trộn vì tác động của sóng. Khi đó các sản phẩm tạo ra của các chuỗi khử – H2S và nitrit NO2 – thường bị mắc kẹt trong lớp đất bên dưới có thể có khả năng dễ dàng đi vào cột nước và có thể gây tác dụng độc hại trên tôm.

Để hạn chế những tác động của các trận mưa, người nuôi tôm nên chuẩn bị để có những bước hành động thích hợp nhằm hạn chế rủi ro kinh tế đặc trưng cho lượng mưa theo mùa.

Các bước thực hành khuyến nghị để giảm thiểu tác động của mưa lớn

Trước khi mưa/mùa mưa:

Làm sạch và nới rộng các kênh thoát nước. Trong một số trường hợp, có thể cần phải lắp đặt một trạm bơm ở một đầu kênh thoát nước để xả nước mưa khi mực nước sông vượt quá mức thoát nước.

Đặt các túi canxi cacbonat (500 kg/ha) lên các thành bờ. Khi trời mưa, cacbonat canxi hòa tan và thẩm thấu qua bờ, giúp duy trì pH và độ cứng trong phạm vi chấp nhận được. Trong trường hợp cực đoan, nên sử dụng kali clorua ở mức 100 kg/ha.

Sửa chữa và nén chặt các sườn đê và mương rãnh, bảo vệ các khu vực bị xói lở nhiều nhất bằng các túi cát và các hàng rào ghép bằng thân cây.

Đảm bảo tất cả cổng thoát nước cho phép thoát nước bề mặt. Các ống PVC được chôn theo chiều ngang trong các đê ở độ cao của toàn bộ ao có thể làm tăng hiệu quả của kiểu thoát nước này.

Kiểm tra tất cả các thiết bị sục khí và việc lắp đặt mạng điện, các bảng điều khiển.

Trong khi mưa:

Xả nước bề mặt.

Đo oxy hòa tan và pH liên tục, và nếu pH giảm nên sử dụng calcium carbonate.

Giảm lượng thức ăn bằng 70% lượng bình thường và tiếp tục giảm tùy theo nhiệt độ và oxy hòa tan.

Chạy tất cả các thiết bị sục khí cơ học sẵn có và cố gắng duy trì mức oxy hòa tan trên 4ppm.

Theo dõi sức khỏe của vi tảo ao bằng cách quan sát các mẫu bằng kính hiển vi – tế bào chết vẫn có thể còn màu xanh lá cây. Tế bào tảo khỏe mạnh có một không bào trung tâm đầy đủ và không có sự tách biệt giữa thành và màng tế bào. Nếu hiện tượng tảo chết sắp xảy ra thì đôi khi có thể ngăn chặn được bằng cách thay nước ao để giảm mật độ tế bào tảo và bằng cách tăng độ pH.

Sau khi mưa:

Tăng dần lượng thức ăn khi nhiệt độ tăng lên, miễn là pH và oxy hòa tan trong giới hạn chấp nhận được và biết được lượng tôm trong ao. Việc ước lượng lại lượng tôm trong ao rất quan trọng. Vì tỷ lệ chết có chiều hướng thường xuyên, nên lấy mẫu ước lượng tôm hàng ngày trong ít nhất một tuần sau đó.

Bổ sung trộn vào thức ăn vitamin C, các loại muối kali, natri và magiê. Một số khuyến nghị khác là bổ sung probiotic (men vi sinh) (có thể là các loài có khả năng phân hủy chất hữu cơ cao) với liều cao để ngăn chặn sự chiếm cứ của vi khuẩn không mong muốn.

Duy trì mức độ sục khí cao cho đến khi có một quần thể vi tảo mới ổn định trong ao.

BioAqua.vn

Lược dịch bài viết của tác giả PHILIP BUIKE – Giám đốc Kỹ thuật – Phòng Nuôi trồng Thủy sản Quốc gia (Cámara Nacional de Acuacultura), Guayaquil, Ecuador

Chia sẻ

Quay lại