Tầm quan trọng của an toàn sinh học trong nuôi tôm

Quay lại

Tầm quan trọng của an toàn sinh học trong nuôi tôm

: 5294

Định nghĩa về an toàn sinh học

An toàn sinh học trong nuôi tôm là các biện pháp bảo vệ các loài thủy sản nuôi khỏi các tác nhân lây nhiễm bệnh (virút, vi khuẩn, nấm, hay kí sinh trùng). Tỷ lệ chết do bệnh tật dẫn đến sụt giảm sản lượng. Đó là một yếu tố chính gây thiệt hại về kinh tế và mối quan tâm an toàn thực phẩm quan trọng đối với người tiêu dùng. Ngoài ra, do mật độ nuôi tôm ở các trang trại thâm canh trở nên dày hơn và có quản lý chủ động hơn thì xác suất của các cá thể tiếp xúc hoặc nguy cơ lây nhiễm bệnh là hiển nhiên. Vì vậy cần thiết thực hiện các biện pháp bảo vệ an toàn thích hợp ở các cơ sở sản xuất để bảo vệ sức khỏe của động vật thủy sản bao gồm: chẩn đoán, phòng ngừa bệnh và kiểm soát bệnh – đó là các biện pháp cấp bách và nên được thực thi thông qua các chiến lược phát triển bền vững sinh thái (ESD).

An toàn sinh học trong nuôi tôm

Ở cấp độ trang trại nuôi tôm, an toàn sinh học liên quan đến việc nuôi tôm khỏe trong một môi trường được kiểm soát tốt nhằm loại trừ sự du nhập hoặc lan truyền các sinh vật không mong muốn và kể cả việc ngăn ngừa các sinh vật thoát trở lại môi trường tự nhiên. Bởi đây là việc không phải luôn luôn có thể thực hiện được nên mục tiêu có thể phải được điều chỉnh để ngăn chặn, loại bỏ hoặc kiểm soát các bệnh truyền nhiễm trong phạm vi trang trại.

Có nhiều nguồn nguy cơ xâm nhập của một tác nhân lây nhiễm vào cơ sở nuôi trồng thủy sản được kể đến như đưa vào giống mới, ấu trùng, tôm con và tôm bố mẹ; nước hoặc thức ăn, con người, động vật hay các trang thiết bị và các vật mang mầm bệnh cận lâm sàng (không có triệu chứng) bị nhiễm trong phạm vi đàn hiện tại (quá trình sản xuất tôm hoặc tôm bố mẹ). Mỗi một nguy cơ này đều cần được đánh giá và liên tục theo dõi để ngăn chặn sự xâm nhập của sinh vật nhiễm bệnh vào trong hệ thống. Như vậy, một chương trình an toàn sinh học hoàn chỉnh đối với một trang trại nuôi tôm có thể kết hợp như sau:

  1. Phòng ngừa bệnh
  2. Theo dõi bệnh
  3. Quản lý dịch bệnh
  4. Vệ sinh và khử trùng giữa các vụ nuôi
  5. Các đề phòng an toàn chung.

Các biện pháp an toàn sinh học

Phòng ngừa bệnh bao gồm các phương pháp được sử dụng để ngăn chặn sự xâm nhập của mọi mầm bệnh tiềm tàng vào cơ sở/trang trại sản xuất. Một trong các phương pháp chính để tránh đưa vào một số mầm bệnh nhất định là mua được tôm/tôm post từ các nguồn cung cấp tôm sạch bệnh (SPF) đã được chứng nhận. Mặc dù cách này không loại bỏ hết tất cả mầm bệnh tiềm tàng trong phạm vi nguồn cung, nhưng sẽ giúp giảm thiểu rủi ro của các mầm bệnh chính trên tôm. Đáng tiếc là chỉ có một vài loài tôm hiện nay được bán theo cách này. Vì vậy, nhiều nhà sản xuất đã và đang thiết lập tại chỗ các cơ sở sản xuất tôm bố mẹ hoặc cho sinh sản để cung cấp giống cho các cơ sở nuôi. Ngoài ra để phòng tránh bệnh, một chương trình kiểm dịch khắt khe được kết hợp để cách ly con người và động vật mới tới một cơ sở nuôi. Khoảng thời gian bắt buộc cho một đợt kiểm dịch có thể được theo dõi kỹ lưỡng về các dấu hiệu lâm sàng của bệnh, được lấy mẫu phục vụ cho các kỹ thuật chẩn đoán sức khỏe và được điều trị nếu đã xác thực. Tiêm chủng vắcxin là một phương pháp khác để ngăn ngừa bệnh trong nuôi trồng thủy sản.

Một phương pháp quan trọng khác trong phòng ngừa bệnh đó là cung cấp một nguồn nước sạch không mang mầm bệnh. Vì vậy, một nguồn nước cấp “bị nhiễm bệnh” có thể cần áp dụng công nghệ hiện đại (lọc cơ học, xử lý hóa chất, lọc tia cực tím, ozon hóa, sử dụng các chế phẩm sinh học để phân hủy chất thải, vv…) để làm cho nguồn nước có thể sử dụng được đối với một cơ sở/trang trại an toàn sinh học. Cuối cùng, các kỹ thuật quản lý tối ưu bao gồm như quản lý mật độ thả giống, dinh dưỡng và di truyền học là cần thiết cho mọi loài thủy sản nuôi để phát triển và duy trì một sức khỏe tối ưu và tình trạng miễn dịch để chống đỡ bất kỳ mầm bệnh tiềm tàng nào.

Theo dõi bệnh nên là một phần thiết yếu của bất kỳ chương trình an toàn sinh học nào. Biện pháp này bao gồm công việc đánh giá sức khỏe theo lịch định kỳ của tất cả các đàn giống thả nuôi ở một cơ sở nuôi trồng thủy sản. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể, công việc này có thể bao gồm lấy mẫu gây chết hoặc không gây chết hoặc cả hai. Các kỹ thuật lấy mẫu không gây chết có thể gồm các xét nghiệm mang, vỏ và miễn dịch, trong khi lấy mẫu gây chết có thể gồm nuôi cấy vi khuẩn, cô lập virút và phân tích mô bệnh học. Mặc dù không có kỹ thuật nào trong số các xét nghiệm này có thể hoàn toàn đảm bảo rằng không có mầm bệnh tiềm tàng nào trong một quần thể tôm, nhưng sẽ giúp giảm bớt rủi ro duy trì một mầm bệnh ở trong quần thể. Việc đánh giá sức khỏe ban đầu hoặc trước khi mua một đàn giống sẽ xác minh thông tin ban đầu về đàn tôm và có thể cung cấp thông tin quan trọng nếu một loại bệnh xuất hiện ở trang trại/cơ sở. Theo dõi định kì cũng có thể giúp xác định được số lượng cá thể trong quần thể bị nhiễm bệnh và mức độ hoặc cường độ nhiễm bệnh trong phạm vi quần thể đó.

Một phần quan trọng của biện pháp phòng ngừa và kiểm soát bệnh thường hay bị bỏ qua trong nghành nuôi trồng thủy sản là khử trùng. Công việc khử trùng thường lệ được thực hiện để giảm thiểu các loại mầm bệnh tại trang trại/cơ sở nuôi tôm, từ đó làm giảm rủi ro lây lan từ một sinh vật nhiễm bệnh giữa các đàn tôm trong một trang trại/cơ sở. Ví dụ như cung cấp đủ số lượng chất khử trùng thích hợp để làm sạch chài và các dụng cụ dùng chung khác là một cách được áp dụng để vô hiệu hóa các sinh vật gây bệnh tiềm tàng. Tuy nhiên, việc dùng các dụng cụ (lưới, xô thức ăn, chai nước lấy mẫu, vv…) riêng cho từng ao một sẽ là tốt nhất để giúp loại bỏ các rủi ro ô nhiễm giữa các hệ thống ao. Việc khử trùng các phương tiện vận chuyển sau khi đã giao tôm giống cho các trang trại hoặc các cơ sở khác cũng giúp tránh mang trở lại một mầm bệnh từ các nơi khác này. Ngoài ra, việc vệ sinh và khử trùng của trang trại/cơ sở nuôi trồng thủy sản và các trang thiết bị giữa các chu kỳ sản xuất/vụ nuôi là rất quan trọng vì giúp làm giảm rủi ro lây lan và tác nhân nhiễm bệnh từ vụ này sang vụ sau.

Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP)

Xuất khẩu thủy sản liên tục bị áp chế bởi các yêu cầu mới có liên quan đến nhãn mác, khả năng truy xuất nguồn gốc, khủng bố sinh học, bảo đảm về an toàn sản phẩm, đánh giá rủi ro, dư lượng kháng sinh, các hóa chất độc hại, vv…. Chính vì thế đã dẫn đến việc lập ra tiêu chuẩn GAP được tập trung nhiều vào giai đoạn trước thu hoạch để quá trình sản xuất được cải thiện, đảm bảo an toàn thực phẩm và gìn giữ môi trường. Các vấn đề quan trọng đã và đang được đặt ra trong thực hành nuôi trồng như chuẩn bị ao, khử trùng nước, sục khí/quạt nước, nhiệt độ, pH, độ kiềm, độ mặn, các vấn đề về thức ăn, giảm bùn, hạn chế thay nước, loại bỏ các hỗn hợp nitơ, sử dụng kháng sinh, sử dụng các chế phẩm sinh học và vv…

Tiêu chuẩn HACCP trong nuôi trồng thủy sản

(HACCP: Hazard Analysis and Critical Control Point system – Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn)

Việc thừa nhận chỉ riêng tiêu chuẩn GAP sẽ không đầy đủ ngoại trừ theo quy trình thực thi HACCP trong nuôi trồng thủy sản. Phương pháp tích hợp chủ yếu về an toàn thực phẩm này cũng chú trọng đầy đủ vào giai đoạn trước thu hoạch để nuôi tôm an toàn, có lãi và bền vững. Trong quá trình thực hiện chương trình HACCP, các điểm kiểm soát tới hạn đã được xác định và các bước hiệu chỉnh được thực hiện trước khi nó trở thành mối nguy. Thủ tục kiểm tra sàng lọc các mẫu tôm sử dụng kỹ thuật PCR (phản ứng chuỗi polymerase) đã đóng một vai trò quan trọng của quản lý các bệnh virút trong nuôi tôm.

Probiotic trong nuôi trồng thủy sản

Có sự hoài nghi trong một thời gian khá lâu về vai trò quan trọng của các vi sinh vật trong nuôi trồng thủy sản nói chung. Các mặt tích cực của vi sinh vật là khả năng hoạt động của chúng nhằm cung cấp thêm chất dinh dưỡng, nhờ đó làm giảm chi phí thức ăn và duy trì các điều kiện mong muốn trong môi trường nuôi trồng.

Vi sinh vật có vai trò quan trọng trong xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản. Chúng cư trú trong trầm tích đáy và các chất nền khác, trong nước của các cơ sở nuôi trồng thủy sản, cũng như trong và trên các loài nuôi. Hoạt động của vi sinh vật có lợi bao gồm loại bỏ các chất độc hại như amoniac, nitrit và hydrogen sulfide, phân hủy thức ăn thừa và làm dinh dưỡng cho động vật thủy sinh như tôm và cá. Việc ứng dụng và sử dụng vi sinh vật trong nuôi trồng thủy sản đòi hỏi kỹ năng quản lý và thao tác.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng các loài vi khuẩn có lợi probiotic trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản nhằm ổn định và kiểm soát các quần thể vi sinh vật, duy trì các thông số chất lượng nước ổn định, loại bỏ sự hiện diện của các yếu tố gây căng thẳng (stress) như NH3, NO3, NO2, vv…, ngăn ngừa nhiễm khuẩn gây ra bởi Vibrio và các vi khuẩn thật (Eubacterial) gây bệnh khác, nhiễm virút, vv… Nuôi cấy hỗn hợp các loài Bacillus hình thành bào tử, gram dương xuất hiện tự nhiên trong đường ruột của tôm đã được biết đến là để sản xuất ra một loạt các hợp chất đối kháng chống lại các mầm bệnh vi khuẩn. Các loài này được xem là probiotic thật sự trong nuôi tôm. Ngày càng nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các vi sinh vật được chọn lọc như các loại nấm men (Saccharomyces cerevisiae, Candida utilis, Kluyveromyces marxianus) và các sản phẩm nấm men đem lại nhiều lợi ích: cải thiện sức hấp dẫn của thức ăn, hỗ trợ tăng trưởng bằng cách cung cấp vitamin, khoáng chất, axit nucleic và kích thích tiêu hóa bởi hệ vi khuẩn đường ruột có lợi. Ngoài ra, các đặc tính kích thích miễn dịch của thành tế bào nấm men (beta glucan và mannan) để kích thích đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu ở tôm là rất có lợi để tồn tại trong sự áp đảo của các vi khuẩn và virút gây bệnh. Men sống có thể hoạt động như probiotic bám dính và chiếm cứ ở chất nhầy của đường ruột, tống khứ các mầm bệnh ra khỏi hệ thống gan tụy, sản xuất các chất dinh dưỡng quan trọng mà có thể tác động đến tăng trưởng như vitamin, khoáng chất và polyamine tham gia trong nhiều quá trình sinh học.

Cuối cùng, các biện pháp phòng ngừa an toàn sinh học phổ biến cần được thiết lập từ mỗi trang trại/cơ sở để hỗ trợ cho cả hoạt động phòng ngừa bệnh và kiểm soát dịch bệnh. Cần có 1 sách hướng dẫn tập hợp các thủ tục vận hành tiêu chuẩn SOP (standards operating procedures) để cung cấp một bộ quy tắc tiêu chuẩn về các biện pháp an toàn sinh học và theo dõi bệnh.  Sách này nên bao gồm các công việc như thiết kế trang trại/cơ sở, luồng nước phục vụ cho cả người và thủy sản nuôi, các quy tắc về khu vực giới hạn hoặc hạn chế trong trang trại/cơ sở, sổ nhật ký quy định khách ra vào, thủ tục khử trùng đối với người và trang thiết bị, sơ đồ quản lý chất thải, hướng dẫn kiểm soát côn trùng, thủ tục quản lý và chăn nuôi thông thường (BFP). Sách hướng dẫn này cũng nên kết hợp các thủ tục cần được thiết lập nếu một bệnh được phát hiện hoặc một ổ dịch xuất hiện. Lưu trữ hồ sơ (khả năng truy xuất nguồn gốc) là vô cùng quan trọng cho sự thành công của bất kỳ chương trình an toàn sinh học nào bởi vì nó có thể cung cấp chính xác thông tin lịch sử về tình trạng sức khỏe, mức tăng trọng, lượng tiêu thụ thức ăn, các đợt tiêm chủng hoặc điều trị và công tác thực hành quản lý của trang trại/cơ sở.

BioAqua.vn

Chia sẻ

Quay lại