Thực vật phù du trong các ao nuôi trồng thủy sản là bạn hữu ích hay là kẻ gây hại?

Quay lại

Thực vật phù du trong các ao nuôi trồng thủy sản là bạn hữu ích hay là kẻ gây hại?

: 7089

Các quần thể thực vật phù du là thành phần quan trọng trong ao nuôi tôm và có thể là bạn hữu ích hoặc là kẻ gây hại tùy thuộc vào cách chúng được quản lý. Ảnh của Darryl Jory.

Quản lý không đúng cách làm cạn kiệt oxy hòa tan, dẫn đến các giá trị pH cực đoan và sự xuất hiện của các loài thực vật phù du không mong muốn.

Thực vật phù du có thể là một vấn đề nan giải trong nuôi trồng thủy sản. Các quần thể được quản lý đúng cách có thể rất có lợi (“là bạn”) đối với các hệ thống sản xuất nuôi trồng thủy sản, nhưng nếu quản lý chúng không thích đáng, chúng có thể sinh sôi nảy nở ngoài tầm kiểm soát và có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đáng kể (“là kẻ gây hại”).

Trong nuôi tôm và cá, nhiều loài thực vật phù du có lợi về mặt dinh dưỡng và giúp loại bỏ các chất dinh dưỡng quá mức (như là amonium, nitrate và phosphat), cũng có liên quan đến sự thay đổi pH trong vòng 24 giờ làm ảnh hưởng đến động lực của amoniac và hydro sulfide, cả hai khí này có thể rất độc đối với các loài thủy sản nuôi.

Sự suy giảm oxy trong ao vào ban đêm có khả năng xảy ra khi thực vật phù du nở hoa quá mức, có thể ảnh hưởng và thậm chí giết chết tôm và cá nuôi. Các nhóm thực vật phù du như tảo đơn bào 2 roi (dinoflagellate) có thể nhả ra độc tố khi chúng chết và ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm và cá.

Do đó, quần thể thực vật phù du có thể có vai trò kép vừa là bạn hoặc vừa là kẻ gây hại trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản, tùy thuộc vào cách chúng được quản lý thích hợp như thế nào.

Một số loài thực vật phù du mong muốn trong các hệ thống sản xuất nuôi trồng thủy sản bao gồm Chaetoceros sp. (nordicmicroalgae.org – hình trái) và Chlorella sp. (tradeboss.com – hình phải).

Thực vật phù du là bạn

Có nhiều loài thực vật phù du giàu dinh dưỡng đối với nhiều loài thủy sản nuôi, chẳng hạn như Chaetoceros sp., Tetraselmis sp., Isochrysis sp., Skeletonema sp., Spirulina sp. và Chlorella sp. Những loài này bổ dưỡng và quan trọng đối với dinh dưỡng ấu trùng tôm trong giai đoạn ấu trùng. Nhiều loài thực vật phù du cũng sản xuất các axit béo omega-3 có nhiều lợi ích cho sức khỏe.

Ví dụ, Schizochytrium sp. được nuôi cấy để thu hoạch lượng lớn axit béo omega-3 sử dụng cho sức khỏe con người và thành phần nguyên liệu đặc biệt. Các vi tảo diệp lục Haematococcus pluvialis chứa hàm lượng cao chất chống oxy hóa astaxanthin có giá trị cao, rất có lợi trong tất cả các giai đoạn nuôi tôm cũng như một loại thực phẩm tốt cho sức khỏe của con người.

Các ao có Chlorella sp. và các loài thực vật phù du khác (nước màu xanh lá cây) chiếm ưu thế, hoặc các ao có tảo cát chiếm ưu thế (nước màu nâu) thì chất lượng nước được cải thiện. Nước xanh đặc biệt quan trọng ở giai đoạn đầu nuôi tôm bởi vì màu nước này có thể được duy trì trong thời gian dài hơn so với tảo cát.

Thực vật phù du có thể sử dụng amonium, nitrate và phosphat, do đó làm giảm nồng độ của chúng trong nước ao. Amonium và nitrate là các sản phẩm phụ của sự phân hủy protein, trong khi phosphat có trong thức ăn được phân phối cho tôm trong ao. Nếu xuất hiện ở nồng độ cao, chúng làm giảm chất lượng nước và có thể hạn chế sự tăng trưởng của tôm và cá.

Thực vật phù du cũng tạo bóng râm và có thể hạn chế hoặc ngăn chặn sự hình thành các loài tảo đáy không mong muốn ở đáy ao. Khi tảo đáy phát triển đáng kể ở đáy ao, chúng có thể lơ lửng thành các thảm nổi lên trên bởi sự hình thành của các khí trong những ngày nắng và có thể tích tụ ở các góc tù đọng trong ao. Khi chúng chìm trở lại, chúng phân hủy và sinh ra hydro sulfide (H2S) rất độc cho động vật thủy sản nuôi.


Một số loài thực vật phù du mong muốn trong các hệ thống sản xuất nuôi trồng thủy sản nước ngọt và nước biển bao gồm Haematococcus pluvialis (youtube.com – hình trên bên trái); Tetraselmis sp. (nuestroacuario.com – hình trên bên phải); và Schizochytrium sp. (ảnh của snipview.com – hình dưới).

Bóng râm là quan trọng bởi vì tôm giống postlarvae hoặc cá con sẽ không bị căng thẳng quá mức dưới ánh nắng mặt trời khi được thả vào các ao không được che. Hiện nay, khi không thể gây được màu nước ao thích hợp theo mong muốn ban đầu dựa vào sự phát triển của quần thể thực vật phù du tự nhiên thì người ta có thể cho một chất tạo màu thương mại nhân tạo vào nước ao để tạo bóng râm như thường thấy với các ao lót bằng nhựa hoặc ao bê tông.

Các loài thực vật phù du là các nhà máy sản xuất tự dưỡng sơ cấp có khả năng sản xuất thức ăn từ hoạt động quang hợp của chúng và là điểm khởi đầu của năng suất tự nhiên trong các hệ sinh thái ao và chuỗi thức ăn trong tự nhiên. Sau khi các quần thể của chúng được thiết lập, những loài khác cũng theo đó hình thành, bao gồm các loài động vật phù du ăn thực vật phù du. Cả thực vật phù du và động vật phù du lần lượt là nguồn thức ăn tự nhiên quan trọng cho tôm hậu ấu trùng và cá con được thả vào ao.

Thực vật phù du là kẻ gây hại

Tuy nhiên, thực vật phù du nở hoa cũng có thể có mặt tiêu cực và có thể gây ra một số vấn đề nếu không được quản lý đúng cách. Ví dụ, nở hoa quá mức có thể gây ra sự cạn kiệt oxy vào ban đêm và dẫn đến lượng lớn phù du và sinh vật thủy sinh chết. Lượng chất hữu cơ quá mức sinh ra do sự chết hàng loạt này có thể gây ra sự suy giảm đáng kể chất lượng nước (đặc biệt là tăng nhu cầu oxy hòa tan) và sự phát triển mạnh mẽ của các quần thể vi khuẩn và nấm gây bệnh có thể dẫn đến nhiều loại bệnh khác nhau ở động vật thủy sản nuôi.

Trong các ao mà thực vật phù du chiếm ưu thế, có sự thay đổi pH trong vòng 24 giờ. Khi mặt trời chiếu sáng hơn, quá trình quang hợp dẫn đến sự hấp thu carbon dioxide tăng tốc và các mức pH tăng lên. Khi mặt trời lặn, quá trình hô hấp của thực vật phù du giải phóng carbon dioxide, dẫn đến sự hình thành axit carbonic và làm giảm độ pH của nước ao. Sự thay đổi pH trong ngày này có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước ao, vì pH ảnh hưởng đến sự phân ly của amonium và hydro sulfide.

Ở các giá trị pH trên 8,5 thì tỷ lệ amoniac (NH3) độc tính cao hơn và mức pH dưới 6,5 thì sự hình thành hydro sulfide (H2S) độc tính sẽ xảy ra. Mức độ biến động của các giá trị pH trong suốt một ngày bị ảnh hưởng trực tiếp bởi mật độ và nồng độ thực vật phù du, khi càng lớn hơn thì càng nghiêm trọng.

Sự sinh trưởng của thực vật phù du tỷ lệ thuận với cường độ ánh sáng, càng phát triển nhanh khi cường độ ánh sáng mặt trời càng sáng và càng mạnh. Ở cường độ ánh sáng mặt trời cao hơn, các hệ thống biofloc có xu hướng dịch chuyển và trở thành các hệ thống do thực vật phù du chiếm ưu thế, do đó có thể có lợi cho các ao hoặc các bể có che nắng vận hành các hệ thống sản xuất biofloc.

Các loài và nhóm thực vật phù du không mong muốn như Anaebaena sp. (một loài tảo dạng sợi màu xanh lục hoặc vi khuẩn lam) và các loài tảo đơn bào 2 roi (dinoflagellate) như Gymnodinium sp. và Ceratium sp. sẽ phát triển mạnh ở vùng nước giàu dinh dưỡng. Nhưng khi tình trạng chúng chết hàng loạt xảy ra do sự cạn kiệt oxy hòa tan trong ao, những loài này có thể giải phóng các độc tố sinh học có hại cho tôm và nhiều loài thủy sản nuôi trồng khác.

Tảo đơn bào 2 roi (Dinoflagellates) nở hoa gây ra thủy triều đỏ và có thể kết hợp sản sinh một số độc tố tự nhiên. Hình trái: Quan sát qua kính hiển vi về Ceratium furca, một loài tảo đơn bào 2 roi phổ biến [Minami Himemiya, [CC BY-SA 3.0 (http://creativecommons.org/licenses/by-sa/3.0)], Wikimedia Commons]. Hình phải: Thủy triều đỏ do tảo đơn bào 2 roi gây ra ngoài cầu tàu Viện Hải dương học Scripps, La Jolla California (Alejandro Díaz – http://en.wikipedia.org/wiki/Image:La-Jolla-Red-Tide.780.jpg].

Cách xử lý thực vật phù du

Sự điều độ nói chung là con đường trung gian tốt nhất để thực hiện trong nhiều trường hợp và trong các ao nuôi tôm, kịch bản lý tưởng là kiểm soát thực vật phù du trong phạm vi có thể. Điều này có thể được thực hiện theo hai cách.

Lựa chọn đầu tiên để quản lý thực vật phù du là thông qua chế độ trao đổi nước thích hợp. Một chế độ liên quan đến việc trao đổi nước đáng kể (lên đến 20% hàng ngày) trong các ao nằm ở nơi có nước dễ dàng; tuy nhiên, điều này chỉ nên được thực hiện nếu cần thiết, cần xét đến mật độ sinh vật phù du và các khía cạnh quản lý ao khác.

Một chế độ khác là thông qua trao đổi nước hàng ngày tối thiểu đến 3 – 5% và được thực hiện trong các công nghệ sản xuất thâm canh, công phu hơn như các hệ thống biofloc. Chế độ trao đổi nước thứ ba là thủy triều, phụ thuộc vào điều kiện địa phương và điển hình là các hệ thống sản xuất quảng canh và lâu đời hơn giống như là các ao rất lớn (< 15 – 20 ha) nằm rất gần vùng ảnh hưởng của thủy triều.

Trong các đợt thủy triều cao, một lượng lớn nước biển có sẵn và trong khoảng thời gian hạn chế này, việc trao đổi nước đáng kể có thể xảy ra; tuy nhiên, loại trao đổi nước này có thể dẫn đến sự nở hoa đáng kể và không được khuyến nghị. Tốt hơn là nên thiết lập và vận hành có trao đổi nước tối thiểu – điều này cũng thuận lợi cho an toàn sinh học – và có ít nhất một phần của ao được che bằng lưới hoặc vật liệu khác, hoặc hoạt động có trao đổi nước đáng kể hàng ngày – cũng có thể bao gồm tuần hoàn nước qua các ao lắng cặn và các phương pháp xử lý khác, như hiện có một số nông dân đang thực hành.

Lựa chọn thứ hai để quản lý thực vật phù du được thực hiện ở những khu vực có nguồn cung cấp nước hạn chế và ở đó người nuôi trồng thủy sản có thể quản lý quần thể thực vật phù du quá mức bằng cách sử dụng các chất diệt tảo đã biết như benzalkonium chloride ở mức 0,3 ppm và hydro peroxide ở mức 2 ppm.

Các quan điểm

Các quần thể thực vật phù du là các thành phần quan trọng trong ao nuôi tôm và có thể là người bạn hữu ích hoặc là kẻ ăn hại tùy thuộc vào cách chúng được quản lý thích đáng như thế nào. Quản lý đúng cách năng suất tự nhiên trong các ao nuôi tôm là rất quan trọng để thúc đẩy và duy trì sinh vật phù du nở hoa, năng suất của cộng đồng vi sinh vật và sinh vật đáy. Thực vật phù du nở hoa hiệu quả sẽ hỗ trợ một cộng đồng sinh vật đáy mạnh khỏe và sẽ đóng góp đáng kể vào việc ổn định và duy trì chất lượng nước thích hợp trong các ao nuôi tôm.

Điều này xảy ra bằng cách thúc đẩy sản xuất oxy nhờ quá trình quang hợp và giảm mức độ các chất chuyển hóa khác nhau và các chất độc hại, bằng cách cải thiện pH nước và đáy ao (quan trọng trong các ao có đất axit sunfat), bằng cách hạn chế – nhờ bóng râm – thiết lập tảo đáy dạng sợi và bằng cách tăng độ đục làm giảm các quần thể tảo đáy và chim ăn thịt.

BioAqua.vn

Nguồn: Phytoplankton in aquaculture ponds: Friend or foe? Tác giả: Poh Yong Thông, M.S. – Tạp chí Global Aquaculture Alliance 24/04/2017

 

Chia sẻ

Quay lại