Trung tâm giống tôm bố mẹ ở Ấn Độ hỗ trợ ngành nuôi tôm trong nước

Quay lại

Trung tâm giống tôm bố mẹ ở Ấn Độ hỗ trợ ngành nuôi tôm trong nước

: 5155

Tóm tắt: Ngành nuôi tôm ở Ấn Độ liên tục mở rộng nhờ sự hỗ trợ của dự án hợp tác giữa Trung tâm Nuôi trồng Thủy sản Rajiv Gandhi, Bộ Thương mại – Công nghiệp Ấn Độ và Viện Hải dương của Đại học Hawaii Pacific. Tại các trung tâm lai giống và sản xuất an toàn sinh học, dự án này sẽ sản xuất tôm bố mẹ sạch bệnh (SPF) cho năng suất sinh sản tốt, tăng trưởng nhanh và tỉ lệ sống cao. Hơn 60 trại sản xuất giống ở Ấn Độ đã tiếp nhận tôm bố mẹ từ chương trình này và hậu ấu trùng/tôm giống từ nguồn này đã được cung cấp cho nông dân trên khắp Ấn Độ.

Ở pha 2 của hệ thống 2 pha, tôm được nuôi ở các mật độ thả thấp hơn cho đến khi đạt trọng lượng 40 – 50 g. Để nuôi tôm đến kích cỡ tôm bố mẹ cần khoảng 6 tháng.

Năm 2013, Ấn Độ đã thay thế Thái Lan là nước xuất khẩu lớn nhất về tôm nuôi sang Hoa Kỳ. Mặc dù sản xuất tôm suy giảm mạnh ở Thái Lan và các nước châu Á khác do hội chứng tôm chết sớm (EMS) là nguyên nhân chính của sự thay đổi này, Ấn Độ đã trở thành một nhà cung cấp chủ lực về tôm nuôi cho người tiêu dùng trên toàn thế giới. Hiện nay, Ấn Độ sạch bệnh EMS, đa phần là do quá trình thực hiện nghiêm ngặt hạn chế nhập khẩu và một hệ thống kiểm dịch tối tân nhằm giảm thiểu lây lan bệnh tôm từ các nước khác.

Theo Cơ quan Phát triển Xuất khẩu các sản phẩm biển (MPEDA), giá trị xuất khẩu thủy sản của Ấn Độ vào Mỹ đạt 5,0 tỷ USD trong năm 2013-14, tăng từ khoảng 3,5 tỉ USD của năm trước. Tôm đông lạnh chiếm 64% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. MPEDA cho rằng phần lớn xuất khẩu tăng là do gia tăng sản xuất tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, Litopenaeus vannamei. Xuất khẩu tôm thẻ L. vannamei vọt lên 175.000 tấn vào năm 2013-2014, tăng 92% so với mức của năm trước.

Việc liên tục mở rộng nuôi tôm thẻ L. vannamei ở Ấn Độ đang được hỗ trợ bởi một dự án hợp tác nghiên cứu dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của Bà Chủ tịch MPEDA, Leena Nair, IAS, liên quan đến Trung tâm Nuôi trồng Thủy sản Rajiv Gandhi (RGCA) đang hoạt động thuộc MPEDA (Bộ Thương mại và Công nghiệp, Chính phủ Ấn Độ) và Viện Hải dương (OI) thuộc Đại học Hawaii Pacific tại Mỹ.

Hội nhập hợp tác

Dự án tập trung vào sản xuất tôm thẻ bố mẹ L. vannamei sạch bệnh (SPF) được lai giống chọn lọc cho năng suất sinh sản tốt, cũng như tốc độ tăng trưởng nhanh và tỉ lệ sống cao ở các trang trại thương phẩm ở Ấn Độ.

Đoàn hệ đa dạng liên quan đến di truyền của các gia hệ tôm do Trung tâm Lai giống Hạt nhân OI tại Hawaii, Mỹ sản xuất được vận chuyển đến Ấn Độ để đánh giá năng suất tại các trang trại thử nghiệm thương phẩm. Sau khoảng 70 ngày nuôi, tôm được thu hoạch, dữ liệu về năng suất được thu thập và phân tích. Sau khi xác định được gia hệ tôm có năng suất cao nhất, các cá thể có cùng bố mẹ từ các gia hệ đó được duy trì tại trung tâm sản xuất lai giống OI sẽ được sử dụng để sản xuất tôm con sạch bệnh (SPF), sau đó được vận chuyển làm tôm giống/postlarvae đến một trung tâm sản xuất giống tôm bố mẹ ở Ấn Độ để nuôi thành tôm bố mẹ.

Cơ sở an toàn sinh học, Thực hành tốt nhất

Trung tâm Nghiên cứu, Cung cấp và Sản xuất Tôm giống Andhra Pradesh (TASPARC), trung tâm giống tôm bố mẹ cho dự án này đặt ở Visakhapatnam, Andhra Pradesh, Ấn Độ. An toàn sinh học nghiêm ngặt và thực hiện các quy trình quản lý tốt nhất là các thành tố then chốt của quá trình hợp tác nghiên cứu. Nỗ lực này được hỗ trợ bởi Cơ sở Kiểm dịch Thủy sinh RGCA cho tôm thẻ L. vannamei ở Chennai, Tamilnadu, Ấn Độ.

Khi đến Ấn Độ, tất cả tôm được giữ lại kiểm dịch trong 5 ngày, ở đây được giám sát và kiểm tra các mầm bệnh tôm cụ thể. Một khi xét nghiệm tôm âm tính đối với tác nhân gây bệnh thì chúng được chuyển đến một trang trại thử nghiệm nuôi thương phẩm để đánh giá ở điều kiện nuôi thực địa hoặc chuyển qua TASPARC để nuôi tăng trưởng.

Để duy trì mức độ an toàn sinh học cao, TASPARC được trang bị cả 2 hệ thống xử lý nước biển đầu vào và đầu ra kết hợp lọc cơ khí, khử trùng bằng ozon và khử trùng bằng tia cực tím, cũng như các hệ thống nuôi tuần hoàn để giảm thay nước. Ngoài ra, chương trình giám sát mầm bệnh đảm bảo tình trạng sạch bệnh (SPF) của tất cả tôm nuôi tại các cơ sở.

Chương trình thực hiện xét nghiệm sự hiện diện của virút hội chứng đốm trắng (WSSV), hội chứng virút Taura (TSV), virút đầu vàng (YHV), virút gây bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và dưới vỏ (IHHNV), virút hoại tử cơ (IMNV), bệnh còi ở tôm sú monodon baculovirus, virút bacilliform, virút gây bệnh teo gan tụy (HPV), virút Mourilyan và virút hoại tử gan tụy (NHP). Phân tích mô học cũng được tiến hành định kỳ như là công cụ quản lý để xác định những bất thường có thể là chỉ dấu cho biết sức khỏe động vật yếu.

Xét nghiệm bệnh được thực hiện bởi phòng thí nghiệm chẩn đoán RGCA ở Sirkali, Tamilnadu, Ấn Độ – Hội đồng Ủy nhiệm Quốc gia của các phòng Xét nghiệm và Hiệu chuẩn – phòng thí nghiệm bệnh học nuôi trồng thủy sản duy nhất được công nhận ở Ấn Độ – và Phòng thí nghiệm Bệnh học Nuôi trồng Thủy sản tại Đại học Arizona – Mỹ là phòng thí nghiệm độc lập được xác nhận của Tổ chức Sức khỏe Động vật Thế giới (OIE).

Ngay sau khi đi vào hoạt động, quá trình kiểm tra an toàn sinh học và đánh giá cơ sở độc lập được tiến hành bởi Đại học Arizona đã xác định TASPARC tuân thủ tất cả các yêu cầu về an toàn sinh học nhằm ngăn chặn sự du nhập và lây lan của các loại bệnh của OIE đã liệt kê trên tôm he penaeid.

Sản xuất giống tôm bố mẹ

Tôm bố mẹ TASPARC được nuôi ở hệ thống nuôi tăng trưởng 2 pha. Postlarvae/tôm giống được nuôi ở các modul pha 1 đến trọng lượng khoảng 15-20 g trước khi chuyển sang các modul pha 2 tách riêng, ở đó tôm được nuôi với các mật độ thấp hơn tới mức 40 – 50 g. Để đạt kích cỡ giống tôm bố mẹ mất khoảng 6 tháng.

Tất cả các cơ sở nuôi tôm đặt trong các tòa nhà khép kín có tấm lợp trong suốt ở nhiều mức khác nhau để có thể được điều chỉnh tùy vào lượng ánh sáng và nhiệt độ tự nhiên. Vi tảo được sản xuất tại chỗ và được cấy vào các hệ thống nuôi, duy trì tảo phát triển ở cả 2 pha nuôi tăng trưởng. Thức ăn nuôi tôm chất lượng cao được nhập khẩu từ Mỹ đảm bảo dinh dưỡng tối ưu trong suốt quá trình nuôi tăng trưởng.

Chất lượng nước được theo dõi chặt chẽ và bất kỳ biến động môi trường theo mùa nào đều được duy trì ở mức tối thiểu. Cơ sở này cũng có khu vực phân phối tôm bố mẹ, ở đó tôm bố mẹ được cho thích nghi và đóng gói để vận chuyển đến các trại sản xuất giống ở Ấn Độ.

TASPARC bắt đầu hoạt động vào đầu tháng 10/2012, khi trung tâm tiếp nhận lô tôm thẻ giống L. vannamei sạch bệnh (SPF) từ OI. Qua 18 tháng đầu hoạt động, TASPARC đã sản xuất và phân phối trên 47.800 tôm thẻ bố mẹ L. vannamei SPF cho các trại sản xuất giống tại địa phương. Cho đến nay, hơn 60 trại sản xuất giống ở Ấn Độ đã tiếp nhận tôm bố mẹ từ TASPARC và postlarvae/tôm giống từ nguồn tôm bố mẹ này đã được cung cấp cho nông dân ở các vùng nuôi khác nhau trên khắp Ấn Độ. Dự án hiện nay có khả năng sản xuất hơn 45.000 tôm bố mẹ hàng năm.

Hơn 60 trại sản xuất giống đã tiếp nhận tôm bố mẹ từ TASPARC và postlarvae/tôm giống từ các đàn tôm bố mẹ này đã được cung cấp cho nông dân trên khắp Ấn Độ.

Các chủ trại sản xuất giống và nông dân địa phương đều được khuyến khích để cung cấp thông tin phản hồi về năng suất tổng thể của tôm bố mẹ TASPARC. Thông tin này có thể được sử dụng để tinh chỉnh các mục tiêu lựa chọn và cung cấp tôm chất lượng cao được lựa chọn về năng suất trong các môi trường nuôi thương phẩm của Ấn Độ cho các bên liên quan ở Ấn Độ.

Các triển vọng

Ngoài các đánh giá trong nước về các gia hệ tôm và những nỗ lực lựa chọn có liên quan, dự án hợp tác này tạo thêm lợi ích gia tăng trong nuôi vỗ tôm bố mẹ trong nước. Dự án này giúp cho tôm bố mẹ thích nghi tốt hơn với các điều kiện nuôi địa phương và giảm thiểu stress gây ra do vận chuyển đường dài, cả 2 yếu tố này đều có thể tác động đến năng suất của tôm bố mẹ nhập khẩu.

Quan trọng hơn, việc sản xuất tôm bố mẹ ở TASPARC hỗ trợ ngành nuôi tôm nội địa của Ấn Độ – bao gồm nông dân nuôi quy mô nhỏ và rất nhỏ (ít hơn 1 ha) – bằng cách cung cấp tôm bố mẹ L. vannamei sạch bệnh (SPF) với giá cả phải chăng và tránh các chi phí vận chuyển cao liên quan đến nhập khẩu tôm bố mẹ từ các nước khác.

BioAqua.vn

Nguồn: Steve M. Arce, Viện Hải dương thuộc Đại học Hawaii Pacific, 41-202 Kalanianaole Highway, Waimanalo, Hawaii USA 96.795 – YC Thampi Sam Raj, Trung tâm Nuôi trồng Thủy sản Rajiv Gandhi, Nagapattinam, Tamilnadu, Ấn Độ – Tiến sĩ P. Jayogopal, Trung tâm Nuôi trồng thủy sản, Lai giống tôm Rajiv Gandhi, Chennai, Tamilnadu, Ấn Độ – H. Dinesh Kumar, Trung tâm Nuôi trồng Thủy sản Rajiv Gandhi, Trung tâm nhân giống tôm thẻ L. vannamei, Visakhapatnam, Andhra Pradesh, Ấn Độ – Tiến sĩ Dustin R. Moss, Viện Hải dương thuộc Đại học Hawaii Pacific. – The Advocate – Tạp chí Global Aquaculture Advocate – Tháng 1-2/2015.

Chia sẻ

Quay lại