Công thức thức ăn ảnh hưởng đến hương vị và kết cấu tôm

Quay lại

Công thức thức ăn ảnh hưởng đến hương vị và kết cấu tôm

: 1850

Các hệ thống nuôi trồng thủy sản dựa vào biofloc ít phải thay nước và tôm được thả với mật độ cao. Với mật độ thả cao kèm theo tăng cường dinh dưỡng ở đầu vào và đáp ứng một cộng đồng vi sinh vật dày đặc phát triển trong cột nước. Cộng đồng vi sinh vật này bao gồm vi khuẩn, tảo, nấm, động vật phù du và động vật nguyên sinh, tất cả đều có chức năng điều hòa các chất dinh dưỡng trong hệ thống – cụ thể là amoniac – và cũng có thể phục vụ như một nguồn dinh dưỡng bổ sung cho động vật như tôm.

Dường như có ít nghiên cứu về sự thay đổi của cộng đồng vi sinh vật có thể ảnh hưởng đến chất lượng dinh dưỡng của biofloc và hầu như không có nghiên cứu nào về sự thay đổi của vi sinh vật có thể ảnh hưởng đến tính chất dinh dưỡng và cảm giác về phẩm chất của tôm trong các hệ thống biofloc. Nghiên cứu trước đây đã cho thấy tôm có thể ăn các chế độ ăn có thành phần hạn chế cá hoặc không có sản phẩm cá.

Loại bỏ các sản phẩm cá từ chế độ ăn của các loài thủy sản có thể cải thiện đáng kể tính bền vững môi trường, giảm biến động giá thức ăn và tăng cường các cơ hội tiếp thị cho tôm nuôi. Tuy nhiên, không rõ ý nghĩa quan trọng của việc sử dụng chế độ ăn không có cá có thể tác động đến cộng đồng vi sinh vật biofloc cũng như giá trị dinh dưỡng và cảm giác của con người về tôm như thế nào, bởi thành phần của các sản phẩm từ thực vật khác biệt đáng kể so với các lựa chọn thay thế có thành phần từ cá.

Đã có một số nghiên cứu về những ảnh hưởng mà thành phần của chế độ ăn có thể tác động đến cộng đồng vi sinh vật trong các hệ thống biofloc; tuy nhiên, các ảnh hưởng đến thước đo dinh dưỡng hoặc cảm giác về chất lượng tôm và bất kỳ tác động tương tác tiềm năng nào giữa thành phần vi sinh vật và chất lượng sản phẩm dường như chưa được hiểu rõ. Không rõ làm thế nào một thành phần chính của chế độ ăn như nguồn protein có thể ảnh hưởng đến các đặc điểm cảm giác của con người về chất lượng tôm, đặc biệt là trong các hệ thống biofloc nơi cộng đồng vi sinh vật cũng có thể đóng một vai trò trong chất lượng sản phẩm.

Các phân tích cảm giác của con người về tôm như hương vị, kết cấu, cảm quan bên ngoài và các thuộc tính mùi hương có thể giúp xác định chất lượng của sản phẩm. Điều này đặc biệt quan trọng khi khám phá các hệ thống sản xuất mới hoặc cách thức quản lý và sử dụng chế độ ăn mới để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp.

Do ngành nuôi tôm chuyển sang các hệ thống sản xuất thâm canh hơn, nơi cộng đồng vi sinh vật đóng vai trò quan trọng hơn trong hiệu suất hệ thống và chuyển sang sử dụng ít bột cá, hoặc thậm chí là chế độ ăn không có cá, điều quan trọng là phải tìm hiểu ý nghĩa của việc quản lý hệ thống và thức ăn đối với chất lượng sản phẩm và vai trò của cộng đồng vi sinh vật trong vấn đề này.

Bài viết này – được tóm tắt và điều chỉnh từ ấn phẩm gốc (Nuôi trồng Thủy sản Quốc tế (2019) 27:261–277 https://doi.org/10.1007/s10499-018-0321-8) – báo cáo kết quả của một nghiên cứu để xem xét những ảnh hưởng một chế độ ăn hoàn toàn không có cá và quản lý chất rắn có trên cộng đồng vi sinh vật biofloc, các đặc điểm dinh dưỡng và cảm giác chính của người tiêu dùng về tôm.

Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi các khoản tài trợ từ Chương trình hữu cơ tích hợp của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ USDA và Chương trình nuôi tôm biển của Hoa Kỳ.

Thiết lập nghiên cứu

Tôm post tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương (Litopenaeus vannamei) được lấy từ một trại giống thương mại (Shrimp Improvement Systems, Islamorada, Florida, Hoa Kỳ). Tôm được nuôi trong bể nuôi ương biofloc trong 8 tuần và được cho ăn một loạt các chế độ ăn có cá. Trong thời gian nuôi ương, chế độ ăn Zeigler Brothers dạng mảnh vụn với 50% protein và 15% lipid (do nhà sản xuất báo cáo) được cung cấp dựa trên khẩu phần ăn và kích cỡ tôm. Trong 4 tuần cuối cùng của giai đoạn ương, tôm đã được cung cấp 40% protein, 9% lipid và chế độ ăn viên 1,5 mm.

16 bể nuôi ngoài trời thể tích 3.600 lít được phân ngẫu nhiên vào 1 trong 4 chế độ ăn. 4 chế độ ăn được quyết định bởi loại thức ăn và quản lý nồng độ chất rắn (biofloc). Chế độ ăn thứ 1 cho thức ăn thông thường có cá và không có quản lý chất rắn (CF), 1 chế độ ăn khác cho thức ăn thông thường có cá và có quản lý chất rắn (CF-S), chế độ ăn thứ 3 cho thức ăn không có thành phần cá và không có quản lý chất rắn (FF) và chế độ ăn thứ 4 gồm thức ăn không có cá và có quản lý chất rắn (FF-S).

Thức ăn có cá là Zeigler™ Hyperintensive-35 (Zeigler Brothers Inc., Gardners, PA, USA). Thức ăn không có cá là thức ăn thí nghiệm ép đùn, cũng được sản xuất bởi Zeigler Brothers, được thiết kế để có nồng độ protein và lipid tương tự như thức ăn có cá. Nồng độ của các hạt biofloc được quản lý bằng cách sử dụng các ngăn lắng đáy hình nón với thể tích chức năng 200 lít, được thiết kế giống như các ngăn đã mô tả của Ray et al. (2011). Các ngăn lắng được vận hành khi cần thiết và độ đục được đo 3 ngày/lần.

Một lượng nhỏ sucrose (200 gram) đã được thêm vào trong tuần đầu tiên của nghiên cứu để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đồng hóa nitơ vô cơ của vi khuẩn dị dưỡng; mặt khác, không thêm cacbon bổ sung.

16 bể thực nghiệm được vận hành ở độ sâu 71 cm và tôm được thả với trọng lượng trung bình 1,3 gram và mật độ 460 tôm/m3, sau đó được nuôi trong 12 tuần. Dựa trên các mẫu tôm hàng tuần, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và mức tăng trọng đã được tính toán và sử dụng để ước tính mức tăng trưởng dự kiến ​​và tính khẩu phần thức ăn hàng tuần. Ngoài ra, các sàng ăn đã được sử dụng để xác định lượng thức ăn được tiêu thụ. Thức ăn được cung cấp 3 lần/ngày và tất cả các bể đều nhận được cùng một lượng thức ăn trong suốt nghiên cứu.

Kết quả và thảo luận

Tôm tăng trưởng tốt hơn đáng kể trong các chế độ ăn có quản lý chất rắn. Tốc độ tăng trưởng, trọng lượng cuối cùng và sinh khối thực đều lớn hơn đáng kể và hệ số chuyển đổi thức ăn thấp hơn đáng kể trong các chế độ ăn có quản lý chất rắn. Không có sự khác biệt đáng kể giữa các chế độ ăn liên quan đến tỉ lệ sống của tôm. Những kết quả này chỉ ra rằng có thể thu được đủ sản lượng tôm bằng cách sử dụng công thức chế độ ăn không có cá và cần phải quản lý chất rắn để giúp tối ưu hóa chất lượng nước và sản xuất tôm trong các hệ thống biofloc.

Các giá trị kẽm được tìm thấy trong tôm từ nghiên cứu này có thể so sánh với thực phẩm có một số nồng độ kẽm cao nhất được Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ ghi nhận (2017). Phần lớn kẽm trong các mô tôm có khả năng bắt nguồn từ các chế độ ăn. Kẽm là một chất dinh dưỡng thiết yếu cho sức khỏe con người cho các quá trình như miễn dịch, chuyển hóa ADN, sinh sản, thị giác và vị giác. Do đó, hàm lượng kẽm cao hơn có thể là yếu tố chất lượng mang tính tiếp thị của tôm nuôi.

Sự đa dạng tác động của các yếu tố thực nghiệm của dự án này đối với nồng độ axit béo trong tôm cho thấy việc quản lý hệ thống và thành phần thức ăn đều có ý nghĩa đối với thành phần dinh dưỡng của tôm. Thực tế là tôm ăn chế độ ăn CF có nồng độ axit béo omega-3 cao hơn so với tôm chế độ ăn FF có thể là kết quả của việc xây dựng chế độ ăn. Tôm được sản xuất bằng cả hai chế độ ăn có thể được coi là một sản phẩm rất tốt cho sức khỏe xét về axit béo, đặc biệt khi so sánh với các sản phẩm thịt trên cạn.

Nồng độ trung bình EPA DHA trong tôm CF (204,2 mg trên mỗi 100 gram) và trong tôm FF (119,4 mg trên mỗi 100 gram) đều cao hơn đáng kể so với báo cáo trong thịt gà và thịt bò. Tôm được cho ăn thức ăn có nguồn gốc từ cá hoặc thực vật có thể là một phần đáng kể trong chế độ ăn của một người để giúp đáp ứng các yêu cầu về EPA và DHA do Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ khuyến nghị. Theo các khuyến nghị này, người tiêu dùng nên ăn 500 mg EPA và DHA mỗi ngày, sẽ cần đến 245 gram tôm CF hoặc 420 gram tôm FF.

Các mức hàm lượng EPA trong biofloc FF và CF (2,9% và 3,7% tính theo trọng lượng của axit béo) tương đương với 3,0% được tìm thấy trong vật chất biofloc của Tacon et al. (2002) là những người nuôi tôm trong các hệ thống biofloc ngoài trời tương tự như các hệ thống được sử dụng trong nghiên cứu này. Các nồng độ DHA biofloc trong nghiên cứu này (2,3% trong FF và 2,5% CF theo trọng lượng của axit béo) cao hơn một chút so với 1,4% được tìm thấy trong vật chất biofloc của Tacon et al. (2002), điều này chỉ ra rằng thành phần dinh dưỡng biofloc có thể không nhất quán giữa các hệ thống và cách thức quản lý.

Đối với một số axit béo được khảo sát trong nghiên cứu này, các nồng độ biofloc không phản ánh trực tiếp mức độ trong thức ăn, đáng chú ý nhất là liên quan đến các mức AA và EPA. Các nồng độ axit béo giữa biofloc của 2 loại chế độ ăn giống nhau nhiều hơn so với nồng độ axit béo giữa chính 2 chế độ ăn. Quan sát này giúp tăng thêm khả năng là các vi sinh vật trong biofloc có thể đã chuyển đổi hoặc tổng hợp các axit béo. Nếu như vậy, các sinh vật chuyên trách này nên được xác định để có thể là chọn chúng cho các dự án trong tương lai nhằm tăng cường thành phần axit béo của tôm.

Thực tế là không phát hiện sự khác biệt nào giữa tôm cho ăn 2 chế độ ăn về mùi thơm và hương vị, việc này cho thấy rằng cả 2 chế độ ăn đều có thể tạo ra chất lượng tôm liên quan đến các thuộc tính này. Điều này tương tự với những phát hiện của Soller et al. (2017) là người phát hiện ra rằng chế độ ăn của tôm với các nguồn lipid khác nhau không tạo ra sự khác biệt có thể phát hiện được về hương vị hoặc mùi thơm. Một mùi thơm với vị ngọt tăng lên ở tôm từ các chế độ ăn có phương pháp quản lý chất rắn có thể là vì những thay đổi trong cộng đồng vi sinh vật do thực hành quản lý này, hoặc có lẽ là sự phong phú của biofloc ít hơn. Cần thực hiện nhiều nghiên cứu hơn để xác định những thay đổi như vậy vềsự phong phú hoặc thành phần của biofloc có thể ảnh hưởng đến các thuộc tính cảm giác đối với tôm.

Các thuộc tính cảm giác duy nhất bị ảnh hưởng đáng kể bởi chế độ ăn trong nghiên cứu này là các phẩm chất liên quan đến kết cấu. Tôm cho ăn thức ăn không có cá khi đầu tiên nhai cho cảm giác nhiều nước hơn và nhiều thớ hơn. Không rõ liệu thịt nhiều nước hơn hay thịt nhiều thớ hơn thì đặc tính nào được người tiêu dùng ưa thích hơn. Để xác định điều này, một nghiên cứu ưu tiên người tiêu dùng nên được tiến hành để kiểm tra mức độ đón nhận những phẩm chất này như thế nào. Tuy nhiên, không có sự khác biệt nào về chất lượng mang tính cảm giác giữa các chế độ ăn dường như cho thấy không có bất kỳ vấn đề tiêu cực nào liên quan đến tôm ăn chế độ ăn FF.

Nghiên cứu này chỉ ra rằng những thay đổi trong cả chế độ ăn và quản lý biofloc rõ ràng có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng dinh dưỡng và cảm giác về tôm. Điều này có thể đưa đến những cơ hội độc đáo để thay đổi các tính chất của tôm vốn rất quan trọng đối với người tiêu dùng. Việc hiểu biết đầy đủ hơn về giá trị mà người tiêu dùng quan tâm đến những phẩm chất đó có thể cho phép các nhà sản xuất thức ăn nuôi trồng thủy sản và quản lý hệ thống điều chỉnh việc sản xuất tôm phù hợp hơn với thị hiếu người tiêu dùng, điều này có thể mở ra các cơ hội tiếp thị thích hợp.

Các nguồn axit béo omega-3 dùng cho chế độ ăn thủy sản rất tốn kém; nếu có thể tăng nồng độ mô của các hợp chất này thông qua quản lý hệ thống tốt hơn, đó có thể đưa ra một giải pháp hiệu quả hơn so với việc cho thêm chất bổ sung vào thức ăn.

Đánh giá

Nghiên cứu này chỉ ra rằng các chế độ ăn không có cá phù hợp trong nuôi tôm và có thể tạo ra tôm chất lượng cao trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản biofloc. Nên chú ý đến các thành phần axit béo của các công thức của chế độ ăn trong tương lai và sự ưa thích của người tiêu dùng đối với các thuộc tính kết cấu tôm nên được khám phá thêm.

Dự án này giúp minh họa một số khía cạnh về chất lượng phẩm chất của tôm có thể được thay đổi thông qua việc xây dựng chế độ ăn và quản lý hệ thống. Kết hợp với thông tin về sở thích của người tiêu dùng, nghiên cứu này có thể tạo tiền đề để điều chỉnh sản xuất tôm đáp ứng các nhu cầu thị trường cụ thể.

HNN (Theo GAA)

Nguồn: tongcucthuysan.gov.vn

 

 

Chia sẻ

Quay lại