Đánh giá chất lượng tôm giống và 3 hình thức ương dưỡng tôm giống hiệu quả

Quay lại

Đánh giá chất lượng tôm giống và 3 hình thức ương dưỡng tôm giống hiệu quả

: 3219

Đánh giá chất lượng tôm giống, cách nào?

(Thủy sản Việt Nam) – Chất lượng tôm giống đóng vai trò vô cùng quan trọng đến thành công của vụ nuôi. Vì vậy, bên cạnh việc lựa chọn mua tôm giống của những đơn vị cung cấp có uy tín, cần chú ý đến các tiêu chí đánh giá chất lượng.

Ngoại hình

Là tiêu chí đánh giá chất lượng tôm giống bằng cảm quan, phương pháp này dễ thực hiện. Theo đó, tôm giống tốt có kích cỡ đồng đều, hệ số chênh lệch không vượt quá 5%. Tuổi tôm PL tương ứng với kích cỡ tôm. Đầu thân cân đối, đuôi tôm xòe. Các chân ở phần đuôi gọi là chân đuôi hay đuôi, khi bơi xòe rộng, khoảng cách giữa 4 chân ở phần đuôi càng xa càng tốt. Cơ thịt bụng tôm co đều đặn, căng bóng. Màu sắc tôm tươi sáng, tự nhiên, vỏ mỏng, bóng, sạch.

Có thể nhìn rõ gan và đường ruột. Khối gan tụy có màu nâu sẫm hoặc màu đen (tùy thuộc vào loại thức ăn), màu sắc gan đồng đều. Khối gan tụy to, rõ, đều và gom gọn trên giáp đầu ngực của tôm PL. Đường ruột tôm to, thẳng đều từ trên xuống dưới, đường ruột tôm thường co bóp mạnh, đều. Khối gan tụy chứa nhiều giọt dầu (trên 30 giọt).

Nếu có kính lúp, lấy ngẫu nhiên khoảng 15 con tôm giống trong cùng một bể lên soi. Nếu thấy gan tụy, ruột nhỏ hoặc không có thức ăn, chân tôm hay có những con bị gãy râu, gẫy chân thì tôm giống không đạt chất lượng. Tỷ lệ dị tật không quá 1%. Tôm giống tốt, độ dày của ống ruột bằng 1/4 độ dày của phần cơ. Ống ruột phải chứa đầy thức ăn và phần cơ cũng phải nở đầy trong phần vỏ (trừ khi tôm mới lột xác). Không có vật lạ như nấm, vi khuẩn, hay nguyên sinh động vật bám ở chân, bụng, đuôi, vỏ và mang tôm.

Tình trạng sức khỏe

Tôm giống tốt có khả năng phân tán nhanh trong bọc tôm hoặc khi đổ ra dụng cụ chứa tôm. Dùng tay gõ nhẹ vào thành dụng cụ chứa tôm, nếu tôm phản ứng nhanh thì đàn tôm đó khỏe. Có thể cho tôm giống vào thau dùng tay khuấy đều, tôm khỏe thường bơi ngược dòng hoặc bám xung quanh thành thau, tôm yếu thường tụ lại ở giữa. Khi dòng nước xoáy giảm xuống, chúng có khuynh hướng bám vào thành chậu hơn là bị quét vào giữa chậu. Ngược lại, những con tôm yếu có thể chết hoặc không phản ứng, bơi lờ đờ, với hình dạng lưng cong.

Có thể chọn tôm bằng phương pháp gây sốc bằng formalin hoặc sốc độ mặn:

+ Gây sốc bằng Formalin 100 ppm: Thả 40 – 50 cá thể tôm giống cần kiểm tra vào dung dịch Formalin 100 ppm và theo dõi trong 30 giây. Nếu tỷ lệ tôm sống 100% là tôm đạt yêu cầu.

+ Gây sốc bằng cách hạ độ mặn đột ngột xuống 0‰: Thả 40 – 50 cá thể tôm giống cần kiểm tra vào cốc thủy tinh chứa 300 ml nước trong bể ương. Cho nước ngọt vào và hạ độ mặn xuống còn 0‰. Theo dõi hoạt động của tôm trong 30 giây, sau đó đưa tôm trở lại độ mặn 30‰. Nếu tỷ lệ sống của tôm 100% là đạt yêu cầu.

Nếu có điều kiện, tốt nhất người nuôi đem tôm đi để kiểm tra bằng phương pháp PCR để xác định tôm giống không nhiễm mầm bệnh nguy hiểm như: WSSV, TSV, YHV, IMNV, MBV, EMS,  EHP…

Gia Phong

——————————————————————————————————————————————

3 hình thức ương dưỡng tôm giống hiệu quả

(Thủy sản Việt Nam) – Ngày nay, hình thức ương dưỡng tôm giống trước khi nuôi đã được người dân áp dụng khá phổ biến. Trong đó, có một số hình thức mang lại hiệu quả như ương tôm siêu thâm canh 3 giai đoạn, ương trong ao đất, ương trong hệ thống bể xi măng, nhà vèo…

Ương siêu thâm canh 3 giai đoạn

Đây là phương pháp được áp dụng khá phổ biến tại Ecuador và các trại nuôi tôm ở miền Nam và miền Trung của Mexico. Hệ thống 3 giai đoạn sử dụng ương raceways trước khi thả tôm giống vào ao nuôi thương phẩm, giúp tăng năng suất vụ nuôi 20 – 30% và hạ chi phí sản xuất; đồng thời, tránh những tổn thất do virus đốm trắng gây ra. Thay vì thả trực tiếp tôm giống PL10 – 12, các trại giống sẽ ương tôm tới cỡ >PL45 giúp giảm thời gian trong ao nuôi thương phẩm lên tới 20 – 30 ngày và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) 10 – 30%.

Cụ thể: ương nauplius với mật độ 300 – 350 lên PL7 với cỡ 1,5 – 2 mg/con trong các bể ương có đáy hình chữ U hoặc chữ V, thời gian 12 – 14 ngày, sau đó chuyển sang giai đoạn 2. Trong giai đoạn này, thức ăn được cung cấp chủ yếu là tảo tươi và một phần Artemia. Giai đoạn này thường kéo dài 7 – 8 ngày, từ tôm cỡ PL7 với mật độ ương 80 PL/lít đến khi tôm PL14, cỡ 3 – 5 mg/con, thường ương trong các bể có đáy bằng. Giai đoạn 3, tôm giống được chuyển sang các ao lót bạt, thời gian khoảng 15 – 17 ngày, từ cỡ PL14 với mật độ ương 16 PL14/lít tới tôm đạt cỡ 200 mg/con.

Khi tôm chuyển sang giai đoạn Postlarvae, thức ăn được cung cấp chủ yếu là Artemia và thức ăn tổng hợp. Hệ thống ương siêu thâm canh 3 giai đoạn có lợi ích với toàn bộ chuỗi cung cấp. Hệ thống ao ương chịu sự kiểm soát liên tục chất lượng nước và sức khỏe tôm. Thức ăn được tối ưu hóa và sử dụng hiệu quả hơn. Giúp sản xuất ra tôm giống có sức đề kháng mạnh, thích nghi được với môi trường ao nuôi. Dẫn đến tỷ lệ sống của tôm tốt hợn ở những ngày đầu thả nuôi (đạt > 90%) và làm giảm tối đa việc bùng phát dịch bệnh.

Ương trong bể, ao vèo

Tôm thẻ giống với có cỡ PL10 – PL15 được ương dưỡng 10 – 20 ngày trước khi đưa ra ao nuôi. Đối với kỹ thuật ương trong bể hay ao vèo cần chú ý: Phải cung cấp đủ nguồn ôxy cho ao vèo, bể do tôm được ương với mật độ cao 800 – 1.000 con/m2. Ao ương được lót bạt đáy chống rò rỉ, phía trên có che kín lưới lan, chống sự xâm nhập của các loài động vật hay côn trùng, đồng thời giữ nhiệt độ trong ao ổn định. Khu nuôi cũng được bảo vệ nghiêm ngặt chống sự xâm nhập của vật nuôi hay địch hại như chuột, rắn… Đối với các ao vèo, ngoài hệ thống quạt nước cần lắp đặt thêm hệ thống ôxy đáy. Ao vèo hay bể cần có hệ thống mái che bằng lưới cản nắng mưa để hạn chế ảnh hưởng của thời tiết trong thời gian ương nuôi, hạn chế được sự phát triển của tảo… Cùng đó, đáy ao nên được trải bạt hoàn toàn, để hạn chế ảnh hưởng của xì phèn, pH thấp, mầm bệnh…; hằng ngày có thể xi phông đáy bể để loại bỏ thức ăn thừa, tôm chết. Trong quá trình ương, người nuôi cần phải tính toán thời gian hợp lý, sao cho đến khi hết thời gian ương thì ao nuôi hoàn tất để có thể thả tôm xuống cho kịp thời.

Ương trong ao đất

Hình thức này chủ yếu dành cho việc ương tôm sú giống trong hình thức nuôi tôm quảng canh cải tiến. Tôm PL15 được ương với mật độ 150 – 200 con/m2 trong khoảng 35 – 40 ngày; Tôm giống được xét nghiệm tại các trung tâm được công nhận, chọn lô tôm giống được chứng nhận sạch các loại bệnh do virus: đốm trắng, đầu vàng, MBV… Tôm Postlarvae cần được cho ăn sau 2 – 4 giờ tính từ lúc thả vào ao; sử dụng thức ăn công nghiệp phù hợp từng giai đoạn. Thức ăn được hòa vào nước rồi tạt đều xuống ao cho tôm ăn.

Bắt đầu từ ngày thứ nhất, cho ăn 0,8 – 1 kg thức ăn/100.000 PL, chia 4 – 5 cữ/ngày, cứ 2 ngày tăng 150 g tùy tốc độ phát triển của tôm giống. Thời gian ương tôm khoảng 30 – 45 ngày tôm sú có thể đạt kích cỡ khoảng 1.000 – 3.000 con/kg thì tiến hành xuất bán hoặc chuyển sang ao nuôi thương phẩm. Việc sử dụng tôm giống kích cỡ lớn để thả nuôi thông qua hình thức ương dưỡng nhằm rút ngắn thời gian nuôi, tăng tỷ lệ sống của tôm nuôi, giảm được rủi ro về dịch bệnh trong nuôi quảng canh cải tiến hiện nay.

>> Việc ương dưỡng giúp tôm đạt tỷ lệ sống lên tới 90% và làm giảm nguy cơ tôm mắc các bệnh nguy hiểm như EMS, WSSV… Từ đó, giảm thời gian nuôi và chi phí của một vụ nuôi, nâng cao năng suất trong các hình thức nuôi tôm hiện nay.

Lê Cung (tổng hợp)

Chia sẻ

Quay lại