Một số khía cạnh hữu ích về xét nghiệm PCR trầm tích / bùn đáy ao

Quay lại

Một số khía cạnh hữu ích về xét nghiệm PCR trầm tích / bùn đáy ao

: 3780

Làm thế nào để lấy mẫu trầm tích / bùn đáy ao để xét nghiệm đốm trắng WSSV?

Lấy khoảng nửa kg bên dưới bề mặt trầm tích / bùn đáy sau khi cào bỏ khoảng 4 – 6 inch (khoảng 10 – 15 cm) lớp trầm tích / bùn đáy bên trên từ 4 đến 5 chỗ đặc biệt ở các khoảnh / vũng ướt trong ao bao gồm cả khu vực gần cửa cống. Đổ chung tất cả các mẫu, trộn đều kỹ và cho 0,5 kg trầm tích / bùn đáy vào túi có khóa kéo để đảm bảo tránh không khí ở phạm vi bề mặt, rồi gửi đến phòng thí nghiệm.

Có nên xét nghiệm đốm trắng WSSV trầm tích / bùn đáy từ tất cả các ao trong trang trại?

Có thể khuyến nghị thực hiện xét nghiệm ở tất cả các ao bị nhiễm nếu có một tỷ lệ mắc bệnh đốm trắng trong vụ trước. Có thể không cần thiết khi kiểm tra trầm tích / bùn đáy từ một ao không bị nhiễm ở cùng một trang trại nằm cách xa ao bị nhiễm. Tuy nhiên, các ao nuôi liền kề các ao bị nhiễm đốm trắng WSD phải nên xét nghiệm vì khả năng lây nhiễm các ao liền kề là khá cao.

Xét nghiệm virút đốm trắng WSSV trầm tích / bùn đáy ở đâu?

Có thể xét nghiệm bệnh đốm trắng WSSV trầm tích / bùn đáy ao ở CIBA hoặc một phòng thí nghiệm uy tín có khả năng để thực hiện xét nghiệm này. Chiết xuất axit nucleic từ trầm tích / bùn đáy có tính quyết định do các chất ức chế PCR.

Cần bao nhiêu thời gian để xét nghiệm virút đốm trắng WSSV trầm tích / bùn đáy?

Cần 7 – 8 giờ để xét nghiệm sự hiện diện của virút đốm trắng WSSV ở trầm tích / bùn đáy ao tôm.

Căn cứ vào kết quả xét nghiệm để quyết định bắt đầu vụ nuôi mới như thế nào?

Nếu trầm tích / bùn đáy bước đầu xét nghiệm PCR dương tính với virút đốm trắng WSSV (OIE 2012) thì không thả giống.

Khử trùng ao và phơi khô ao thật kỹ và làm xét nghiệm lần nữa.

Nếu trầm tích / bùn đáy xét nghiệm PCR tổ (kỹ thuật PCR nested) dương tính với virút đốm trắng WSSV, người nuôi có thể thả giống sau khoảng 4 – 5 ngày, bởi lượng virút có khả năng giảm thêm đến mức không lây nhiễm.

BioAqua.vn

Nguồn: CIBA (Central Institute of Brackishwater Aquaculture) – India

Chia sẻ

Quay lại