Tóm tắt lịch sử nuôi tôm ở Việt Nam

Quay lại

Tóm tắt lịch sử nuôi tôm ở Việt Nam

: 9284

Shrimp News: Vài nét về lịch sử và hiện trạng nuôi tôm ở Việt Nam do các nhà nghiên cứu Việt Nam đăng trên tạp chí xuất bản hàng quý của Hội Nuôi trồng Thủy sản Thế giới (WAS) số tháng 3 năm 2015.

Với sự đa dạng loài, các hệ thống và các cơ cấu tổ chức – sản xuất giống và trang trại nuôi tôm biển ở Việt Nam đã và đang phát triển nhanh chóng trong vài thập kỷ qua, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng.

Những thử nghiệm đầu tiên trong sản xuất giống tôm biển (Penaeus merguiensis và P. penicillatus) đã được tiến hành vào những năm 1970 ở miền Bắc Việt Nam. Trong khoảng 1984 – 1985, tôm sú (P. monodon) đã được sản xuất thành công tại các tỉnh miền Trung. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sản xuất các loài tôm giống bản địa (P. merguiensis và P. indicus) bắt đầu vào năm 1988 và sau đó đã chuyển đổi phần lớn sang tôm sú năm 1997. Tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương (P. vannamei) đã được đưa vào Việt Nam năm 2000 và nhanh chóng phát triển nuôi ở các tỉnh miền Trung, kể từ năm 2007, nuôi tôm thẻ chân trắng đã lan rộng vào đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 1986, chỉ có 16 cơ sở giống sản xuất được 3,3 triệu tôm giống/postlarvae​​. Tới năm 2005, có đến 4.280 cơ sở giống đa phần quy mô nhỏ sản xuất ra 28,8 tỷ tôm giống/postlarvae, chủ yếu là tôm sú. Tuy nhiên, kể từ năm 2005, đã có một sự thay đổi lớn trong ngành công nghiệp sản xuất tôm giống. Số lượng các cơ sở sản xuất giống giảm dần, nhưng quy mô cơ sở tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là các cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương. Đến năm 2012, số lượng các cơ sở sản xuất giống giảm xuống còn 1.715, nhưng sản lượng tăng lên đến 67 tỷ tôm giống/postlarvae, trong đó tôm thẻ chân trắng là 30 tỷ. Năm 2013, sản lượng tôm thẻ chân trắng tăng lên 47 tỷ con, hơn gấp đôi tôm sú là 21 tỷ. Hiện nay, các tỉnh miền Trung là nơi có tới 40% cơ sở sản xuất giống của cả nước và sản lượng chiếm 70%.

Phương pháp nuôi tôm thâm canh hơn theo thời gian, ban đầu là các hệ thống nuôi quảng canh ở những năm 1970, đến quảng canh cải tiến trong những năm đầu thập niên 1980, rồi đến các hệ thống nuôi bán thâm canh và thâm canh kể từ năm 1985 và mới đây là các hệ thống nuôi siêu thâm canh.

Các hệ thống nuôi độc canh, hệ thống rừng ngập mặn và hệ thống luân canh lúa/tôm đã được phát triển vào đầu những năm 1980. Năm 1991, Việt Nam có 230.000 ha ao nuôi tôm với tổng sản lượng khoảng 56.000 tấn, tăng lên 600.479 ha và 304.257 tấn vào năm 2005, chủ yếu là tôm sú. Tuy nhiên, nuôi tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương đã phát triển nhanh chóng kể từ sau đó, và năm 2013, tổng diện tích nuôi là 652.613 ha đạt sản lượng 475.854 tấn, trong đó tôm thẻ chân trắng chiếm 9,8% về diện tích nuôi đạt 51,7% sản lượng.

Hiện nay, đồng bằng sông Cửu Long chiếm hơn 90% diện tích nuôi và 60% sản lượng hàng năm. Mặc dù có xu hướng chuyển sang các hệ thống nuôi thâm canh ngày càng nhiều, nhưng các hệ quảng canh cải tiến, rừng ngập mặn và luân canh tôm/lúa vẫn chiếm phần lớn với hơn 85% diện tích nuôi ở Việt Nam.

Mặc dù nuôi tôm ở Việt Nam vẫn còn đặc trưng chủ yếu là hộ gia đình quy mô nhỏ, nhiều cơ cấu tổ chức khác như hợp tác xã, doanh nghiệp độc lập và các công ty lớn cũng đã được thành lập. Các chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế từ Global GAP, Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản và Thực hành Nuôi trồng Thủy sản Tốt nhất đã và đang được áp dụng và phát huy.

Hiện trạng sản xuất tôm giống

Tôm sú (Penaeus monodon) giống được sản xuất tại các trại giống quy mô nhỏ tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long. Tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương (P. vannamei) giống được sản xuất tại các trại giống lớn tập trung ở các tỉnh miền Trung. Các bể nuôi ấu trùng có thể tích từ 48 đến 2.800 mét khối đối với tôm sú và từ 60 đến 6.500 mét khối đối với tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương.

Tôm sú giống bố mẹ chủ yếu đánh bắt từ hoang dã và có trọng lượng lớn (250 – 350 gram). Tôm thẻ giống bố mẹ phần lớn được nhập từ các nước khác (Mỹ, Thái Lan và Singapore). Gần đây, các thử nghiệm thuần hóa tôm thẻ giống bố mẹ đã và đang được khởi động tại các viện nghiên cứu và các trại sản xuất giống tư nhân.

Đối với ương ấu trùng, áp dụng hai kỹ thuật chính: hệ thống nước trong ngoài trời và hệ thống tuần hoàn. Hệ thống nước trong ngoài trời được sử dụng chủ yếu ở các trại sản xuất giống lớn gần bờ biển sẵn có nguồn nước biển dồi dào. Hệ thống tuần hoàn do Đại học Cần Thơ phát triển được sử dụng ở các trại sản xuất giống xung quanh thành phố Cần Thơ, ở đồng bằng sông Cửu Long cách biển khoảng 60 km. Nước mặn từ các ao bốc hơi muối được sử dụng để tăng độ mặn tại các trại sản xuất giống.

Tại các trại tôm sú giống, nauplii được thả ở mật độ 100 – 250/lít nước và tỷ lệ sống ở giai đoạn postlarvae là 50 – 70%. Đối với tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, mật độ thả giống là 150 – 300 nauplii/lít và tỷ lệ sống là 40 – 60%. Tảo cát được sử dụng để ương nuôi ấu trùng tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương. Do hầu hết các trại sản xuất giống tôm thẻ chân trắng có quy mô lớn, sản lượng trung bình hàng năm là 47 đến 1.780 triệu postlarvae mỗi trại giống, lớn hơn nhiều các trại tôm sú giống quy mô nhỏ với sản lượng bình quân là 39 – 172 triệu postlarvae.

Hiện trạng Công nghệ Nuôi tôm

Được phát triển vào năm 1980, hai hệ thống nuôi tôm truyền thống chiếm ưu thế ở đồng bằng sông Cửu Long: nuôi tôm kết hợp rừng ngập mặn và quảng canh cải tiến. Các hệ thống nuôi tôm rừng ngập mặn đều nằm trong vùng đệm, phía sau toàn bộ rừng phòng hộ bờ biển. Các hệ thống quảng canh cải tiến nằm ở khu kinh tế, sâu trong nội địa hơn vùng đệm ven biển. Cả hai hệ thống này có đặc điểm là diện tích ao lớn (3 – 10 ha), bao gồm nền đáy nâng cao ở giữa ao (khu vực nước nông chiếm 60 – 80% tổng diện tích ao), hệ thống mương xung quanh nền đáy, chiếm 20 – 40% tổng diện tích ao và đê bao xung quanh. Với các hệ thống nuôi kết hợp rừng ngập mặn, chủ yếu là trồng cây đước Rhizophora chiếm khoảng 50 – 70% diện tích nền đáy.

Các trang trại nuôi tôm quảng canh cải tiến, thực vật thủy sinh (các loài Scirpus littoralis và Typha), rong biển (Enteromorpha, Chaetomorpha, Cladophora, và Gracilaria) hoặc  các cây ngập mặn được trồng hoặc cho phát triển trên nền đáy một cách tự nhiên. Các loài thực vật này tốt cho môi trường và tạo ra môi trường sống tuyệt vời cho tôm, cá và đặc biệt là cua biển. Trong các hệ thống này, tôm hoang dã, cá và cua chảy vào ao thông qua trao đổi nước nhờ thủy triều vào lúc trăng tròn và trăng non. Ngoài ra, tôm sú giống ương từ trại giống được thả ở mật độ 2 – 4 con mỗi mét vuông, 2 – 8 lần/năm, qua hai mùa (tháng 12 – 4 và tháng 6 – 11). Cua bùn, sò huyết (Anadara granosa) và một số loài cá nước lợ cũng được thả với mật độ thấp để tận dụng thức ăn tự nhiên, đa dạng hóa sản phẩm và thu nhập. Hầu như không bổ sung thức ăn cho các hệ thống này.

Hai đến ba tháng sau khi thả giống, tôm được thu hoạch từng phần vào mỗi khi trăng non và trăng tròn bởi khi đó nước ao chảy qua lưới theo thủy triều rút. Sản lượng tôm hàng năm khoảng 300 – 400 kg mỗi ha. Tôm sú lớn (trên 50 gram mỗi con) chiếm 50 – 70% thu hoạch. Phần còn lại là tôm hoang dã khác như tôm chuối (P. merguiensis), tôm Ấn Độ (P. indicus) và tôm cát (Metapenaeus ensis). Cua bùn cũng thường được thu hoạch từ các ao này.

Gần đây hơn 6.000 ha các hệ thống nuôi tôm kết hợp rừng ngập mặn đã được Naturland chứng nhận là tôm hữu cơ. Với các kỹ thuật đơn giản, đầu tư vốn thấp, thân thiện với môi trường, thu hoạch thường xuyên, ít bệnh và ít rủi ro kinh tế, các ao nuôi kết hợp rừng ngập mặn chiếm 50.000 ha, trong khi hệ thống nuôi tôm quảng canh cải tiến chiếm 330.000 ha. Công nghệ nuôi tôm cần có những cải tiến hơn để cho các hệ thống này đạt được tỷ lệ sống, năng suất và thu nhập tốt hơn.

Các hệ thống luân canh lúa – tôm rất điển hình ở đồng bằng sông Cửu Long và hiện đang chiếm hơn 160.000 ha. Trong các hệ thống này, tôm sú được nuôi vào mùa khô với nước lợ, lúa được trồng trong mùa mưa với nước ngọt. Các hệ thống truyền thống được bao quanh bởi hệ thống mương sâu bên trong ao dọc theo đê và có mức nước nông (30 cm) trên nền đáy. Hệ thống cải tiến bằng cách sử dụng máy móc và có mực nước sâu hơn nền đáy (70–80 cm).

Mật độ thả giống, cho ăn và quản lý nước của hai hệ thống khác nhau. Trong các hệ thống truyền thống, tôm được thả với mật độ thấp (2 – 5 con trên mỗi mét vuông), cho ăn không liên tục và quản lý đơn giản. Sản lượng tôm bình thường là 200 – 300 kg mỗi ha mỗi vụ. Trong các hệ thống được cải tiến, tôm được thả với mật độ cao hơn (6 – 8 con mỗi mét vuông), cho ăn thức ăn công nghiệp và chất lượng nước được quản lý một cách cẩn thận. Những ao này mang lại năng suất 800 – 1.500 kg mỗi vụ/ha.

Trong các hệ thống luân canh tôm/lúa, vụ tôm 3 – 4 tháng làm vào mùa khô và nhiều giống lúa truyền thống được trồng vào mùa mưa. Do độ phì nhiêu của đất tăng lêng sau vụ tôm, rất hạn chế hoặc không sử dụng phân bón để trồng lúa. Năng suất lúa có thể đạt 3 – 5 tấn mỗi ha mỗi vụ. Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) cũng thường được thả cùng lúc với vụ lúa ở mật độ thấp (1 – 2 con mỗi mét vuông) với một số thức ăn. Năng suất tôm vào khoảng 50 – 100 kg/ha/vụ.

Nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương thâm canh phát triển ở các tỉnh miền Trung. Tuy nhiên, hiện nay, đồng bằng sông Cửu Long có nhiều ao nuôi thâm canh hơn các tỉnh miền Trung. Gần đây, phần lớn các trang trại nuôi tôm thâm canh chuyển từ nuôi tôm sú sang tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương vì lợi thế tăng trưởng nhanh, năng suất cao và nguy cơ bệnh thấp của tôm thẻ chân trắng.

Nói chung diện tích các ao nuôi tôm thâm canh khá nhỏ (0,2 – 0,5 ha) và có thể được lót bạt đối với nuôi tôm thẻ chân trắng. Mật độ thả giống của tôm thẻ chân trắng (70 – 150 con/mét vuông) cao hơn tôm sú (20 – 35 con/mét vuông). Nuôi tôm thẻ chân trắng với công nghệ biofloc thả mật độ cao hơn, đòi hỏi sự đầu tư lớn hơn và chủ yếu áp dụng ở các tỉnh miền Trung. Với nuôi thâm canh, hạn chế thay nước và thường sử dụng chế phẩm sinh học/men vi sinh trong quản lý nước và quản lý sức khỏe. Tôm thẻ chân trắng được thu hoạch sau 90 – 100 ngày, năng suất 10 – 15 tấn mỗi ha mỗi vụ. Tôm sú được thu hoạch sau 100 – 150 ngày, năng suất 3 – 7 tấn mỗi ha mỗi vụ. Tỷ lệ sống của tôm hiện nay đang khá cao, mặc dù ngành tôm cũng đã phải đối mặt với nhiều vấn đề bệnh nghiêm trọng (hội chứng tôm chết sớm, bệnh đốm trắng và các bệnh khác) trong một vài năm.

Các trang trại nuôi tôm thâm canh có thể là các hoạt động nhỏ độc lập, các hợp tác xã, các doanh nghiệp cá nhân hoặc các công ty lớn. Mỗi dạng công ty sản xuất có lợi thế và nhược điểm khác nhau. Nhiều công ty lớn có trại sản xuất giống, trang trại nuôi, nhà máy chế biến và các cơ sở xuất khẩu. Các công ty này thường xuyên thực hiện theo các chứng nhận quốc tế từ Global GAP, Thực hành Nuôi trồng Thủy sản tốt nhất hoặc Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản.

Kết luận

Tóm lại, qua nhiều thập kỷ phát triển, sản xuất tôm giống và nuôi tôm đã trở thành hoạt động ngày càng quan trọng và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế xã hội của khu vực ven biển Việt Nam, nói chung, và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Mặc dù nuôi tôm ngày càng thâm canh hơn, nhưng diện tích rộng lớn dành cho các hệ thống nuôi quảng canh cải tiến, hệ thống nuôi trồng kết hợp và các hệ thống luân canh tôm/lúa tiếp tục được duy trì phát triển bền vững. Việc cấp chứng nhận cho nuôi tôm với các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế là mục tiêu quan trọng trong tương lai gần. Ngành công nghiệp tôm đang tiến lên theo hướng phát triển bền vững và đáp ứng các chỉ tiêu kế hoạch là 630.000 ha và 700.000 tấn vào năm 2020.

BioAqua.vn

Nguồn: Shrimp News. World Aquaculture (the quarterly magazine of the World Aquaculture Society). Editor–in–Chief, John Hargreaves. Innovation in Seed Production and Farming of Marine Shrimp in Vietnam. Tran Ngoc Hai (email tnhai@ctu.edu.vn), Pham Minh Duc, Vo Nam Son, Truong Hoang Minh and Nguyen Thanh Phuong. Volume 46, Number 1, Page 32, March 2015.

Chia sẻ

Quay lại